TRỞ VỀ NHÀ GIỮA ĐẠI DỊCH

TRỞ VỀ NHÀ GIỮA ĐẠI DỊCH

Bài viết của BTV Nguyễn Hoàng Diệu Thủy

Tháng 3 năm 2020, có một lá thư của một phụ nữ tên Nhung, ở Việt Nam, cầu cứu Đại sứ Phạm Sanh Châu giúp đỡ: chồng cô là anh Park Gong Hee người Hàn Quốc đang mắc kẹt ở Ấn Độ vì lệnh phong tỏa do Covid-19.

“Cách giờ bay năm phút, cháu thấy tài khoản của chồng báo tình trạng mới đăng nhập, anh ấy gọi cho cháu chỉ nói vỏn vẹn một câu: “Anh xin lỗi, anh chưa thể về với mẹ con em được” rồi tắt máy. Vậy là cháu biết chồng cháu đã không thể lên chiếc máy bay ấy. Cháu không dám khóc thành tiếng vì con gái cháu còn đang nằm ngủ trên tay…

Hôm qua cháu đọc được bài báo nhờ có bác mà rất nhiều người Việt Nam tại Ấn Độ đã được sắp xếp để có mặt trên chuyến bay hôm đó. Chồng cháu không phải là người Việt Nam, nhưng vợ và con anh ấy là người Việt Nam. Anh ấy luôn coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình. Anh ấy sống và làm việc để đóng góp một phần sức lực nhỏ bé cho sự phát triển chung của Việt Nam. Bố mẹ chồng cháu đều đã qua đời. Cháu và con gái là những người thân duy nhất của anh ấy. Chúng cháu đã quyết định sẽ định cư tại Việt Nam, sống và cống hiến cho nơi đây – quê hương của chúng cháu. Bây giờ chồng cháu một thân một mình nơi xứ người, không người thân thích, tiếng tăm không biết, công ty tại Ấn Độ thì tạm thời đang đóng cửa. Cháu thật sự rất lo lắng không biết anh ấy sẽ sống ra sao.

Cháu cầu xin bác hãy cho gia đình cháu một cơ hội, một phép màu giúp chúng cháu sớm được đoàn tụ, cho con gái cháu còn đang tuổi tập nói có thể cất tiếng gọi và chơi đùa với bố mỗi ngày.”

Lá thư của doanh nhân Ravi có doanh nghiệp tại Nam Định:


“Tôi dự định trở lại Việt Nam vào ngày 22 tháng 3 nên đã không làm bất cứ giấy ủy quyền nào cho đội ngũ quản lý cấp cao của tôi. Do đó, nhà máy sẽ không thể tiếp tục hoạt động bình thường nếu không có chữ ký của tôi trên các tài liệu chính thức. Ngày trả lương hằng tháng là ngày 10 tháng Tư đang sắp đến gần. Không có sự hiện diện và chữ ký của tôi, tiền lương sẽ không trả được, và chúng tôi lo lắng về những tác động liên quan đến kinh tế và xã hội đối với các công nhân của chúng tôi. Nhà máy của tôi nằm ở một vùng nông thôn của tỉnh Nam Định. Các công nhân chủ yếu là cư dân làng Phú An và Cát Thành.

… Tôi hy vọng nhận được sự cho phép đặc biệt để vào Việt Nam (tất nhiên phải kiểm dịch theo yêu cầu) để gia đình tôi và tôi có thể trở về Việt Nam.”

Hàng trăm những lá thư và những cuộc gọi, tin nhắn như thế được gửi đến Đại sứ và Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ trong thời gian đó, có rất nhiều những câu chuyện, những hoàn cảnh đáng phải lưu tâm. Nhưng làm sao có thể đưa tất cả người Việt về nước khi Ấn Độ là nước có chính sách phong tỏa gắt gao nhất thế giới (hẳn chúng ta còn nhớ những clip cảnh sát Ấn độ đánh roi người dân khi họ ra đường!) và các chuyến bay thương mại không mở?

*
Những ngày tháng này ở Việt Nam dường như virus Covid-19 đã bị lãng quên. Giờ đây ai cũng bận làm ăn để vực lại kinh tế, nhưng Covid còn đó và thế giới vẫn đang loay hoay chưa tìm vacine phòng chống. Hoạt động thông thương, du lịch, đi lại giữa các nước chưa biết khi nào mới trở lại bình thường.

Như tất cả mọi người trong mùa xuân u ám vừa rồi, tôi đã đọc rất nhiều thứ về corona, các đặc tính của loại virus mới mẻ và nguy hiểm này, cách các chính phủ ứng phó với dịch, tâm lý hoảng hốt của đám đông chỗ này và sự bất cần đời của đám đông chỗ kia, những lời cầu nguyện thiết tha, những cuộc chửi bới trên mạng xã hội… Nhưng với cuốn sách Chiến dịch Hoa Kim Tước này, đây là lần tiên tôi đọc được một câu chuyện toàn cảnh về việc giải cứu công dân Việt trong những ngày tháng cam go nhất. Một tư liệu quý về cách chúng ta ứng xử với đại dịch và về vấn đề bảo hộ công dân.


Chiến dịch Hoa Kim Tước đã giải cứu 339 công dân Việt Nam từ Ấn Độ về nước. Tôi nghĩ gọi đó là chiến dịch là xứng đáng vì tính quy mô và sự phức tạp của nó. Đất nước Ấn Độ vô cùng rộng lớn. Người Việt sang Ấn vì mục đích du lịch và tu tập rất nhiều, sau đó là vì học tập và làm việc. Những địa điểm du lịch và nơi tu tập thường là những thánh tích Phật giáo cách rất xa thủ đô, có nơi tới cả ngàn cây số, điều kiện giao thông nổi tiếng vì đường đất xấu và xe cộ phập phù. Hơn nữa trong phong tỏa, việc đi lại bị hạn chế tối đa, và cơ chế hành chính Ấn Độ vốn đã quan liêu lại còn đình trệ hoạt động, khiến các thủ tục giấy tờ cho công dân nước ngoài trở nên cực kỳ phức tạp.

“Về di chuyển, đây là bài toàn cực kỳ khó khăn trong bối cảnh cả đất nước Ấn Độ bị phong tỏa gắt gao bậc nhất thế giới. Chỉ đi lại trong khu vực cư trú để mua nhu yếu phẩm mà cũng gặp khó khăn. Ở New Delhi, cứ năm trăm mét lại có một trạm cảnh sát. Người dân sở tại luôn phải đối mặt với nỗi lo sợ nếu không xuất trình được giấy tờ hay không có lý do chính đáng để ra ngoài sẽ bị phạt. Bản thân người dân Ấn Độ cũng mắc kẹt không về được quê nhà vì đường bộ, đường sắt, đường không đều đóng cửa. Ngay cả những phương tiện thường được ưu tiên như xe ngoại giao cũng không được phép di chuyển từ tiểu bang này sang tiểu bang khác. Các tiểu bang lúc này trở thành các quốc gia riêng biệt. Bằng cách nào để di chuyển bà con đến thủ đô?”

Cuối cùng chính phủ Việt Nam đồng ý cho sứ quán tổ chức chuyến bay giải cứu. Nhưng phải gom công dân về thủ đô thì mới có thể bay về nước. Hàng ngàn cuộc điện thoại đã gọi, hàng trăm văn bản đã gửi đi khắp nơi. Trong điều kiện phong tỏa gắt gao, Đại sứ quán đã chia công dân thành 13 nhóm theo từng khu vực, mỗi “cánh quân” do một cán bộ sứ quán phụ trách từ xa qua email và group chat, tổ chức đưa họ về thủ đô New Dehli bằng các loại phương tiện khác nhau, làm việc với các cơ quan liên quan của Ấn Độ để lo mọi loại giấy tờ thông hành, kết nối các chuyến bay nội địa và đặt chuyến bay trong nước. Sứ quán cũng chuẩn bị những bữa ăn giản dị đón tiếp bà con, và chuẩn bị mấy trăm suất cơm nắm muối vừng cho công dân tại sân bay. Cuối cùng các cán bộ sứ quán trực sáu bảy tiếng đồng hồ ở sân bay để giúp mọi người khai bằng tay các tờ khai xuất cảnh khi mà cả sân bay Indira Gandhi đã đóng băng hoạt động…

Có những tình huống li kỳ, những giây phút thót tim, như câu chuyện của anh Trần Anh Hùng và bà mẹ 62 tuổi, khăn gói từ thành phố Vinh – Nghệ An đến tận bang Madhya Pradesh miền Trung Ấn để học thêm về Yoga, nhưng lệnh phong tỏa ập đến, ngôi trường chỉ còn lại hai mẹ con anh Hùng, ông bà hiệu trưởng và cậu giúp việc.

“Ngày được cầm tờ giấy thông hành ra sân bay chắc là ngày mà cảm xúc của Trần Anh Hùng và mẹ trở nên khó tả nhất. Hai mẹ con ở cách sân bay Delhi 952 ki lô mét. Phương tiện di chuyển là taxi với một người lái. Tại thời điểm giãn cách xã hội, một taxi bốn chỗ chỉ được chở tối đa ba người nên thay vì hai lái xe, hai mẹ con chỉ có một lái xe chạy cho quãng đường di chuyển liên tục trong 18 tiếng, nhưng không có lựa chọn khác.

Hùng và mẹ đã trải nghiệm một “chuyến xe kinh hoàng”. Mặc dù đã được cảnh báo trước về lái xe taxi ở Ấn Độ nhưng hai mẹ con cũng không khỏi kinh ngạc. Anh ta liên tục dùng hai chiếc điện thoại của mình, nào là nghe, nào là nhắn tin. Nhiều khi mẹ con Hùng giật mình vì lái xe đang cúi xuống nhắn tin thì trước mặt có những chiếc xe ngược chiều đang lao đến. Hùng chắc rằng ông ta sử dụng điện thoại suốt 10 tiếng trong 18 tiếng lái xe, cùng với chiếc khẩu trang đáng ra che ở mũi và miệng thì ông ấy bịt phần trán.”

Đoàn của sư thầy Thích Đạo Nguyện và đồng môn ở Tu viện Library tại Dharamsala, thì hồi hộp đến nghẹt thở khi sắp đến giờ buộc hải di chuyển mà vẫn chưa thuê được xe. Cán bộ phụ trách nhóm nói, “Hiện giờ Đại sứ quán đang họp và làm việc với cơ quan chức năng của Ấn Độ để xin giấy phép cho 76 xe ô tô nhằm đưa tất cả bà con tới sân bay New Delhi an toàn”. Giấy phép tới vừa kịp trong nỗi vỡ òa sung sướng. “Vượt qua hơn 470 cây số và 20 trạm phong tỏa trong và ngoài tiểu bang, cuối cùng đoàn đã tới Đại sứ quán vào lúc gần nửa đêm ngày 18/5 sau gần 12 tiếng di chuyển liên tục. Đường từ Himachal Pradesh xuống Delhi rất dốc và nhiều chỗ cua gấp, chất lượng đường lại xấu nên hành trình cực kỳ vất vả.”

339 con người lên chuyến bay về nước hôm ấy, hẳn mỗi người đều có câu chuyện li kỳ của riêng mình về cuộc di chuyển khó khăn để lên chuyến bay giải cứu duy nhất mà Đại sứ quán tổ chức được trong thời điểm đó.

*
Cuốn sách này cho tôi nhận ra ba chữ “trở về nhà” trở nên thiêng liêng thế nào khi con người ở trong tình thế hiểm nghèo nơi xa xứ. Có chết người ta cũng muốn được chết ở quê hương trong vòng tay người thân. Hằng ngày chúng ta vui sống, học tập vui chơi khắp nơi, đi ra các nước ngoài để tìm kiếm cơ hội làm ăn, và rồi ra sức chê bai đất nước mình. Nhưng đến khi ấy ta mới nhận ra giá trị của mảnh đất nơi ta thuộc về. Việc trở về nhà không chỉ là để thoát khỏi tình trạng thiếu thốn đồ ăn, các tiện nghi sống, công việc đình trệ, mà cao hơn nó là sự yên ổn bên những người thân yêu, và là một công dân chính danh được đất nước mình bảo vệ. Nếu không, một đại gia Việt đã không thuê riêng một chuyến bay 10 tỷ để đưa con gái của mình về. Nhưng đa số người dân không có điều kiện đó, và họ cần chính phủ của mình hỗ trợ.

Điều gây hứng thú ở cuốn sách này còn ở chỗ người đọc biết thêm về hoạt động hậu trường của những nhà ngoại giao và sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, những cuộc gặp gỡ người đồng nhiệm các nước, sự kết nối với các quan chức và doanh nghiệp sở tại để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục… giữa hai quốc gia. Đại sứ Phạm Sanh Châu trong thời gian đương nhiệm chính là người đã kết nối để tỷ phủ Ấn Độ Nitin Shah (bố nuôi là Lý Nhã Kỳ) tổ chức tiệc cưới bảy ngày cho con trai ở Phú Quốc. Ông cũng đã nỗ lực giới thiệu di sản văn hóa phi vật Hầu đồng trong một liên hoa âm nhạc giữa bối cảnh đại dịch mới chớm.

Bên cạnh đó, những thông tin chân thực về cuộc sống và con người Ấn Độ cũng làm cuốn sách thêm sinh động màu sắc.

*
Thầy Thích Đạo Nguyện đã về được quê hương. Doanh nhân Ravi đã trở lại Việt Nam để tiếp tục điều hành nhà máy tại Nam Định và trả lương cho công nhân. Anh Park chồng Nhung được hỗ trợ để bay về Hàn Quốc, và mấy tháng sau đã về được Việt Nam đoàn tụ với Nhung và con gái trong hạnh phúc. Chị Anna người Nga, có con gái năm tuổi mang quốc tịch Việt, cũng đã về được Nha Trang với chồng mình là anh Dương, theo diện nhân đạo đặc biệt. Tất cả đã trở về an toàn nhờ những nỗ lực phi thường của Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ.

Cuốn sách Chiến dịch Hoa Kim Tước của Đại sứ Phạm Sanh Châu, cùng với một số cuốn sách khác ra mắt trong và sau đại dịch Covid-19, là những ký sự quý giá ghi lại một quãng thời gian đặc biệt trong lịch sử của chúng ta, cho thấy giữa rất nhiều những mảng màu u ám, ta vẫn có thể tin vào tình yêu con người.

Leave a Reply

Your email address will not be published.