Thất khách tháng 7

cũng như bất kì ai trong chúng ta, là những vị khách tạm ghé chốc lát trong quán trọ cuộc đời. Thế nhưng họ có dáng vẻ của những vị khách đi lạc luôn mải mê tìm kiếm trong thực tại này một thực tại khác nữa: cái bản chất ẩn tàng trong mọi sự, cái đẹp bị khuất lấp và dần đánh mất nếu không biết nắm bắt như giọt sương bốc hơi trên những cánh hoa tươi đẹp buổi sớm trong khu vườn cuộc đời. Dạo bước trong khu vườn tháng bảy, ta bắt gặp thất khách tức bảy vị khách đi lạc của chúng ta. Hãy cùng Nhã Nam thư quán gặp gỡ những vị khách này nhé 

Ngày 2/7/ 1877: Một trong những vị khách tha thiết nhất với trần gian – Hermann Hesse ghé chân lần đầu tiên tại nước Đức. Những tác phẩm được viết ra của ông ít nhiều đều là bản tự họa chân dung cuộc đời mình: xuất thân từ một gia đình nề nếp có truyền thống Kito giáo nhưng sớm bước vào cuộc phiêu lưu trần thế theo tiếng gọi thúc giục của tự ngã và định mệnh . Chủ đề trong tác phẩm của ông vừa là sự giằng xé, vừa là sự dung hòa giữa những đối cực: cái thiện và cái ác, thiêng liêng và phàm tục, sự thật và dối trá, niềm vui sướng và sự bất hạnh,…bằng triết lý uyên thâm cả Đông lẫn Tây. Tác phẩm của ông vừa đời thường vừa kì ảo, nó mở rộng rộng thênh thang những chiều kích của vũ trụ, biên giới của tưởng tượng khiến ta tìm thấy ý nghĩa giấc mộng của mỗi cá thể trong thế giới. Ông luôn tha thiết đi tìm cái tôi, thế nhưng đó là cái tôi tương thông với vũ trụ bằng tuệ giác. Ông được trao giải Nobel văn chương năm 1946.

Tác phẩm: Siddhartha, Demian, Sói thảo nguyên, Đâu mái nhà xưa, Mối tình chàng nhạc sĩ, Huệ tím, Ảo hóa,…

3/7/1883: Kafka là một vị khách thất lạc cả trong đời thực lẫn văn chương. Ông sinh ra tại Praha trong một gia đình trung lưu, trải qua tuổi thơ đầy mâu thuẫn với người cha, sau đó học luật để làm cho văn phòng một công ty bảo hiểm. Có lẽ tác động của thời thơ ấu và thể chế xã hội đã tạo nên ám ảnh về thứ quyền lực kì lạ mang tên “Kafkaesque”. Các nhân vật của ông luôn bị bàn tay của một thế lực kì lạ bắt lấy để rồi hắn phải tự chất vấn về chính mình, rốt cuộc thì hắn là ai, tại sao hắn lại có lỗi, làm sao để thoát khỏi lỗi lầm, bằng cách nào hắn đi đến được cái mục đích cao vợi ấy mà càng dấn bước hắn càng cảm thấy sự vô nghĩa đè nặng lên bước chân. Thế giới quan của ông là một mê cung người ta quên nơi bắt đầu và không biết nơi mình phải đến như Milan Kundera nhận xét: “Với , tiểu thuyết không còn là điều tự bạch của . Tiểu thuyết là cơ hội thăm dò ý nghĩa cuộc sống, khi thế giới đã trở thành một cái bẫy giam hãm con người”.

Tác phẩm: Hóa thân, Nước Mỹ, Vụ án, Lâu đài, Thư gửi bố,…


10/7/1871: Vị khách mang tên Marcel Proust là người bị thất lạc chiếc đồng hồ, luôn “Đi tìm thời gian đã mất” mà ông dành ra trong đời để viết bộ tiểu thuyết đó – bộ tiểu thuyết đã đưa ông vào hàng những nhà văn vĩ đại nhất thế kỉ 20. Sinh ra trong một gia đình thượng lưu, cha ông là một bác sĩ nổi tiếng thế nhưng ngay từ rất sớm ông quyết định đi theo con đường văn chương của riêng mình. Tác phẩm của ông là một trường đoạn miên man của dòng chảy kí ức mà nơi đó mỗi miếng bánh, vị trà đều khắc ghi dấu ấn của hoài niệm: “…hương và vị vẫn còn ở đó rất lâu, như những linh hồn, để tưởng nhớ, chờ đợi và hy vọng, giữa cái hoang tàn của tất cả, và không hề nao núng, để mang trên cái giọt mong manh của chúng, cả dinh thự mênh mông của hoài niệm.” . Bộ tiểu thuyết chứa đựng biết bao suy ngẫm triết học, truy vấn về ý nghĩa cuộc sống trong dòng chảy bất tận của thời gian đã trở thành niềm tự hào của nền văn học Pháp nói riêng và văn học thế giới nói chung.

Trọn bộ Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust:
– Bên phía nhà Swann
– Dưới bóng những cô gái đương hoa
– Về phía nhà Guermantes
– Sodome và Gomorrhe
– Cô gái bị cầm tù
– Albertine biến mất
– Thời gian tìm lại được


10/7/1931: Đúng 60 năm sau ngày sinh của Proust, vị nữ khách ghé thăm cuộc đời tại vùng đất Canada. Điểm chung của cả hai là đều chăm chút, xoáy sâu vào trong mối quan hệ đời thường để tìm kiếm ở đó những vấn đề then chốt trong bản chất con người và đời sống. Bà chọn cách thể hiện những lát cắt đời sống thông qua thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn của bà thường tập trung vào những người phụ nữ vùng Ontario bị mắc kẹt với gia đình, xã hội. Truyện của bà thường nhẹ nhàng nhưng đột nhiên sáng tỏ ở những phút giây cuối cùng để lại sau đó nỗi buồn âm ỉ đầy day dứt và hối hận về những quyết định sai lầm của con người trong bước ngoặt cuộc đời mình bởi sự vô tri hoặc vô tâm. Chính những mổ xẻ tinh vi trong đời sống đã giúp bà đoạt giải Nobel văn chương 2013 – một trong số ít nhà văn nữ đoạt giải và đặc biệt là nâng tầm, tôn vinh thể loại truyện ngắn

Các tác phẩm: Trốn chạy, Ghét, thân thương, yêu, cưới, Cuộc đời yêu dấu, Điệu nhảy của những cái bóng hạnh phúc,…



21/7/1899: Vị khách tiếp theo ghé qua trần gian tháng bảy chính là nhà văn Mỹ Ernest Hemingway. Cuộc đời ông trải qua hai cuộc thế chiến với những trải nghiệm đau thương về lịch sử. Thế nhưng văn chương của ông luôn có một sự tiết chế cao độ đến mức gần như lạnh lùng. Nguyên lý “Tảng băng trôi” đã trở thành đặc trưng trong tác phẩm của ông và gây ảnh hưởng đến văn chương thế kỉ thứ 20. Ông cũng là một vị thất khách luôn truy tìm để rồi mất mát, hẳn ta còn ám ảnh mãi cuộc săn đuổi con cá kiếm và bộ xương còn sót lại trong tác phẩm Ông già và biển cả. Không giật gân, luôn điềm tĩnh thế nhưng luôn kéo trì ta xuống bằng sức mạnh của tảng nghĩa ẩn ngầm trên bề mặt chữ luôn trôi đi. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1954. Ông tự sát vào tháng 7 năm 1961 tại nhà riêng, để lại di sản văn học mang tầm vóc lớn lao cho nền văn chương thế giới.

Các tác phẩm: Ông già và biển cả, Hội hè miên man, Chuông nguyện hồn ai, Giã từ vũ khí, Mặt trời vẫn mọc,…



30/7/1818: Đóa hoa hồng rực rỡ nở vào khu vườn tháng bảy là nữ văn hào Emlily Bronte. Bà nổi tiếng với kiệt tác Đồi gió hú đã trở thành kinh điển trong nền văn học Anh. Là một trong sáu người con của gia đình Bronte, tuổi thơ bà lần lượt chứng kiến sự ra đi của mẹ và hai người chị cả. Sau những chấn thương thơ ấu, ba chị em Emily, Charlotte, Anne và em trai Patrick Branwell đã tìm đến văn chương như một cách tìm kiếm thăng hoa. Giọng văn của bà sắc bén, miêu tả sự mãnh liệt của tình yêu, ranh giới của cái thiện và cái ác, bản chất sự sống và cái chết. Cái ác là chủ đề hết sức được chú ý trong tác phẩm của bà qua nhân vật Heathcliff. Georges Bataille viết trong Văn học và cái ác: “Như vậy, cái Ác, xét một cách kĩ lưỡng, không chỉ là giấc mơ của kẻ độc ác, mà còn là giấc mơ của cái thiện”

Tác phẩm: Đồi gió hú.


30/7/1945: Chàng thanh niên “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa” của tháng 7 chính là nhà văn Pháp . Tuổi trẻ và kí ức chính là hai chủ đề chính xuyên suốt trong tác phẩm của ông. Các nhân vật thường bị những tảng kí ức nặng nề đeo đẳng trong trí óc, họ nghĩ mãi về tuổi trẻ, cố tái hiện kí ức để chất vấn liệu chúng đã thực sự tồn tại hay không và bản thân họ là ai trong sự trôi dạt của thời gian. Thông qua kí ức về tuổi trẻ, ông đặt những suy nghiệm nhẹ nhàng về “Triết lý trôi dạt”, về sự lạc loài, mất mát gốc rễ và căn tính. Khát vọng các nhân vật của ông là tìm kiếm căn cước của mình và khẳng định sự tồn tại ấy. Văn phong của ông lơ lửng, khó nắm bắt như chính sự tồn tại của các nhân vật nhưng tình yêu thì luôn đẹp đến mức không thể quên. Năm 2014, ông được vinh danh ở giải Nobel văn chương vì “với nghệ thuật của ký ức, ông đã tái hiện những số phận khó nắm bắt nhất và khám phá thế giới – cuộc sống trong sự chiếm đóng”

Tác phẩm: Một gánh xiếc qua, Quảng trường ngôi sao, Để em khỏi lạc trong khu phố, Từ thăm thẳm lãng quên, Phố những cửa hiệu u tối, Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối,…


Leave a Reply

%d bloggers like this: