[Book of the year 2016] 451 độ F

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Khi đến với 451 độ F, tôi đã bị choáng ngợp bởi một thế giới giả tưởng, nhưng lại vô cùng chân thực, thế giới nơi con người bị bủa vây bởi những phương tiện truyền hình, những máy móc tiện lợi, nơi con người sống vật vờ. Sách trở thành vật đáng tởm, và những người yêu sách trở thành kẻ tội đồ. Thế giới quan của con người thời kì này cũng méo mó, người ta không cần lính cứu hỏa nữa, mà cần lính phóng hỏa: Để những cuốn sách xấu xa chìm trong biển lửa cháy sáng, để những giá trị, những tri thức chìm vào quên lãng, để những thứ nông cạn thống trị con người. Một thế giới lạ, nhưng lại liên kết chặt chẽ với thế giới mà chúng ta đang sống : Nơi chúng ta đang đứng là điểm đầu, còn 451 độ F là điểm cuối của đường thẳng. Thế giới đó vẫn luôn như vậy, cho đến khi Clarisse, cô gái kì quặc nhà bên tiến vào thế giới của Montag, chàng lính phóng hỏa, nhân vật chính, và thế giới của anh đã dần thay đổi từ giờ phút đó.

Có thể nói rằng, đối với tôi, những cuốn sách có một giá trị đặc biệt. Nó giống như một thế giới để gửi gắm những nghĩ suy, tình cảm tâm tư. Một nơi tôi tìm thấy một ai đó giống, và khác mình. Có lẽ vì vậy mà tôi thấy đồng cảm với Montag. Anh như một người hành khất đi trên sa mạc khô cằn lâu năm, không còn phương hướng, không còn mục đích, chỉ cần sống là đủ, bỗng tìm được một bán đảo tươi tốt và dòng nước mát lành. Và dòng nước đó đã cứu anh khỏi những mụ mị, đưa anh ra khỏi những tháng ngày sống vô nghĩa, làm những việc lặp đi lặp lại hàng ngày mà cũng không rõ mình đang làm gì. Và nó cho anh thêm hai thứ mà anh đã đánh mất: Quá khứ, và tương lai. Quá khứ là nơi anh quay về, để tìm được Mildred, cô vợ của mình ở Chicago, nơi hai đứa gặp nhau lần đầu tiên, nơi những xúc cảm ùa về. Tương lai chính là những hy vọng, mộng tưởng của anh. Câu kết của cuốn sách như một dấu chấm lửng, để người đọc thỏa sức tưởng tượng về những phần tiếp theo, về cuộc đấu tranh, về chiến thắng.
Đọc 451 độ F, dù ít dù nhiều, mỗi người đều sẽ tìm thấy mình trong các nhân vật được kể. Nào những người như cô vợ Mildred, người lúc nào cũng đeo những con bọ ở hai bên tai, và chúng rì rầm đến nỗi cô chẳng nghe thấy bất kì điều gì khác nữa. Lúc nào cũng gí mắt vào những cái màn hình ở các góc tường, và chỉ nhìn thấy mỗi những con người ảo trong cái màn hình đó mà thôi. Những người an phận thủ thường như đám lính phóng hỏa, những người ta biết và không biết tên, lặp đi lặp lại những công việc được giao, mà cũng chẳng bao giờ tự hỏi nó đúng hay sai, tốt hay xấu. Và cũng có ai đó như Clarisse nổi loạn, và dù bị nói là kì quặc, bệnh hoạn, khác thường, cô vẫn sống đúng với bản thân, mạnh mẽ và không gì có thể thay đổi. Những Faber, những Granger, một thế hệ nắm giữ tri thức bị quên lãng, bị bỏ rơi, bị chèn ép, bị cố gắng xóa bỏ nhưng vẫn tồn tại đấy, vẫn luôn ở đó, và trở nên vững chãi bất cứ khi nào ta cần họ. Và cả một Montag đã từng mù quáng nhưng đang đấu tranh từng ngày, tìm đến con đường đúng đắn, con đường của tri thức.
451 độ F là câu truyện giả tưởng của tương lai, nhưng cũng là câu truyện hiện tại. Nó như một lời nhắc nhở gửi đến hiện tại: Đừng để thế giới rơi đến bờ vực này, hãy thức tỉnh ngay từ bây giờ đi.

(Gà Ngố)

VŨ MINH TRANG

[Book of the year 2016] Tuyển chọn hoàng phi

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Đây không phải là một quyển sách khiến tôi thấy thích lắm, nhưng tôi cũng khá ấn tượng về nó bởi nhiều lý do. Và vì cũng có thói quen ghi lại đôi dòng cảm nhận về những quyển sách mình đã đọc qua, nên tôi cũng mạn phép gửi đến các bạn bài cảm nhận này.

Trước tiên, về bối cảnh câu chuyện tôi không muốn bình luận gì nhiều. Vì dù sao đây cũng là bối cảnh hư cấu. Điều tôi thấy buồn là trong xã hội này, giá trị của con người lại được phân chia theo số thứ tự một cách cứng nhắc và gay gắt, còn khắc nghiệt hơn cả thời phong kiến. Có lẽ tôi đã hình dung được phần nào con đường gian nan của Mer, khi bản thân cô và gia đình phải vật lộn với cuộc sống mưu sinh của những người thuộc tầng lớp thấp, mà điều đáng buồn hơn nữa là người cô yêu lại còn thuộc tầng lớp thấp hơn. Định kiến xã hội quá gay gắt là một trong những lý do khiến phần đầu câu chuyện có vẻ tù túng, nhưng cũng vì thế mà tính cách và tư tưởng của từng nhân vật được bộc lộ rõ rệt. Ở Mer có những tính cách mà tôi thấy khâm phục: chăm chỉ, phóng khoáng, hết mình và mạnh mẽ. Tuy nhiên, tôi thấy nổi bật nhất ở cô chính là sự không thỏa hiệp. Cô biết mình muốn gì và luôn cố hết sức để đạt được điều đó, với tất cả sức lực và trái tim của mình. Định mệnh đưa đẩy khiến Mer tham gia vào cuộc tuyển chọn hoàng phi – cuộc thi vốn chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt ngoại trừ việc nó có thể cứu vớt cuộc sống kinh tế khốn khổ của gia đình cô. Cuộc thi mà ngay chính vị hoàng tử còn cảm thấy thờ ơ và nhạt nhẽo với nó thì với Mer có thể có ý nghĩa gì to tát cơ chứ.
Có lẽ tình bạn nảy sinh giữa chốn hoàng cung xa hoa đơn điệu giữa Mer và hoàng tử Maxon lại là một điểm sáng cho câu chuyện. Ẩn sau vẻ ngoài tẻ nhạt và đáng ghét hóa ra lại là một chàng trai dịu dàng và nhiều tâm sự. Diễn biến tình bạn giữa họ khiến tôi thấy thoải mái và có hứng thú hơn một chút. Maxon có lẽ đại diện cho những nét tính cách mà Mer còn thiếu: dịu dàng, tinh tế và có chút bí ẩn nữa. Hai nét tính cách khá là trái ngược nhau vì thế mà trở nên thu hút lẫn nhau chăng? Tôi có phần chưa thỏa mãn vì diễn biến tình cảm giữa hai người họ được tác giả đề cập khá chóng vánh, chưa có nhiều chiều sâu. Tôi muốn họ gắn bó với nhau hơn qua từng giai đoạn, sự kiện cơ, nhưng có lẽ yêu cầu thế là nhiều, nhất là đối với truyện phương Tây.
Cuộc tuyển chọn hoàng phi – một ván cược may rủi mà cô cho rằng mình nắm chắc phần thua đã chính thức bắt đầu. Về cả phương diện lãng mạn lẫn chính trị đều có một vài biến động khiến cho các nhân vật bắt đầu bộc lộ cái tôi của mình nhiều hơn. Tôi vẫn trông mong vào những phần tiếp theo của series này vì tôi có chút tò mò về cô gái mạnh mẽ America này. Liệu những tình cảm mới nhen nhóm lên trong lòng cô gái trẻ có đủ biến thành động lực cho cô trong cuộc tranh đấu ngày càng khắc nghiệt này hay không? Liệu khi đứng giữa ngã rẽ tình yêu, cô sẽ lựa chọn những kí ức đẹp đẽ trong quá khứ hay sóng bước cùng người đã mang đến cho cô những cảm xúc mới mẻ?

PHẠM THỊ THÚY HIỀN

[Book of the year 2016] Nhà giả kim

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Có những cuốn sách đi qua đời tôi vô tình và lặng lẽ nhưng lại có những cuốn khiến tôi thật sự bị ấn tượng bởi từng câu chữ. Nó là cho tôi luôn muốn hướng tới trang phía sau nhưng lại lưu luyến trang hiện tại. Và đôi khi có những cuốn sách làm thay đổi những suy nghĩ trong tôi, khiến tôi nhận ra rằng mình còn nhiều thứ phải sửa đổi, mình còn nhiều thứ phải học tập. Nhà giả kim là một cuốn sách như vậy.
Nhà giả kim-cuốn sách nói về sự thay đổi quyết định của một cậu bé chăn cừu nghèo tên Santiago. Cậu muốn đi về vùng đất Ai Cập, tham gia vào cuộc phưu lưu tìm kho báu như trong giấc mơ được lặp đi lặp lại của cậu thay vì chăn đàn cừu mà bố cậu mua cho.

Quyết định của cậu hẳn là dễ hiểu bởi khi ta mang trong mình một hoài bão, ta sẽ cố gắng đạt được dẫu biết rằng con đường dẫn tới thành công luôn tràn đầy những gian nan, luôn rình rập những hiểm nguy và sẵn sàng xô ngã ta. Nhưng đi qua được khó khăn ta mới thấy yêu hơn giá trị của cuộc đời và thật tuyệt biết bao nhiêu khi bên cạnh luôn có những người quan tâm và củng cố thêm động lực cho ta tiến bước như cô bé mà Santiago đã có cảm tình ngay lần đầu gặp trong truyện. Song cuộc sống càng hiện đại như ngày nay, kiểu người như ông chủ tiệm pha lê, nơi mà cậu bé chăn cừu đã vào để xin ít thức ăn sau khi cậu bị cướp sạch tiền. Ông là đại diện cho kiểu người sống trên ước mơ của người khác, ông luôn muốn đến Mekka sau khi bị lừa tiền nhưng rồi ông đã không làm điều đó. Bởi ông sợ! Ông sợ sẽ chẳng còn gì để làm động lực khi mà đã có được điều mình mong muốn…
Cuốn sách nhỏ bé vậy thôi, nhưng bên trong lại chứa những thông điệp lớn lao vô cùng: sống thì cần có ước mơ. Có ước mơ để thành công, có ước mơ để sống thực sự là sống. Ngoài ra, tác giả còn khuyên chúng ta hãy biết chọn những cuốn sách phù hợp và nhớ đến những câu chữ đáng nhớ để có thể áp dụng vào cuộc sống như Santiago chứ không nhất thiết phải kéo “một vali sách” trong cuộc hành trình của bản thân mà không thu được gì.
Lúc đầu tôi cứ nghĩ rằng, đây đơn thuần cũng chỉ là một cuốn sách để tạo động lực, đề ra những chỉ tiêu sáo rỗng mà không thiết thực nhưng khi đọc xong tôi mới biết rằng mình đã lầm. Đọc nó, tôi đã bị các dòng chữ “”ăn”” lúc nào không hay biết và nếu như vừa đọc vừa suy ngẫm thì tôi thấy mỗi câu mỗi chưa như là một triết lí sống. Thật hữu ích và không kém phần thú vị.
Tác phẩm hay khi nó chưa kết thúc. Quả vậy. Gấp trang sách lại tôi lại thấy trong mình mở ra một trang sách mới nhưng nó chỉ đánh số mà chưa có chữ. Và tôi, nhiệm vụ của tôi là phải viết lên đó những dòng chữ, phải để cho bản thân mình tiếp tục cố gắng để được sang trang mới. Để đến cuối cùng thứ ta đạt được sẽ còn quý giá hơn cả kho báu vật chất. Đó là giá trị tâm hồn.

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

[Book of the year 2016] Mãi yêu con

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Cuốn sách này, kể về một bà mẹ luôn hát ru cho con trai của mình, từ lúc cậu được sinh ra cho đến khi cậu trở thành một thanh niên, trưởng thành và có gia đình riêng…
Bạn biết không, đây là một cuốn sách tranh, đọc không cần suy nghĩ nhiều, cũng chẳng phải tốn thời gian, nhưng tôi nghĩ nó sẽ khiến bạn cảm động, vì tình yêu của Mẹ, vượt cả thời gian.
Trong kí ức của tuổi thơ tôi, tôi chỉ nhớ rõ cái ngày nắng gay gắt, bên lò rượu mẹ nấu, tôi ngồi chơi một mình, hái sao tím mọc dại, mẹ ngân nga Đêm gành hào nhớ điệu hoài lang.
Mẹ chưa bao giờ nói thương tôi, tôi cũng chẳng bao giờ tặng mẹ cành hoa hồng vào dịp Vu Lan báo hiếu, đừng trách tôi vô tâm, chỉ vì, khi đứng trước mẹ, tôi vụng về, tôi trẻ con…
Con ơi yêu con mãi mãi
Thương con chẳng thể xa rời
Chừng nào trái tim còn đập
Con là riêng của mẹ thôi.”
Con cũng yêu Mẹ mãi. Con không rời Mẹ đâu, con không hứa, vì con không muốn làm Mẹ thất vọng, có quá nhiều lí do để chúng ta xa cách nhau: tai nạn, bệnh tật… Con chỉ ở bên Mẹ, như cách Mẹ lặng lẽ ở bên con, mỗi ngày. Con ích kỉ, con chỉ muốn Mẹ là của con, cũng như cách Mẹ ích kỉ, chỉ nghĩ đến con mà quên chăm lo cho bản thân mình.
Gửi Mẹ cuốn sách này, cuốn sách làm con nhớ Mẹ da diết. Con nghĩ con may mắn, khi có một người mẹ quá tuyệt vời. Chắc Robert Munsch cũng may mắn giống con.

TRẦN PHƯƠNG THẢO VY

[Book of the year 2016] Tôi đã chết vào một ngày nào đó

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Khoảng cách giữa người sống và người chết thật ngắn ngủi. Con người ta không bao giờ có thể biết trước được tương lai. Thế nên, sống là phải sống cho “chín”, vì ta chẳng biết được cuộc đời ta sẽ kết thúc khi nào:
“Tôi đã chết vào một ngày nào đó
Liệu cái chết của tôi có ý nghĩa gì không?”
Lee Kyunghye – tác giả của “Tôi đã chết vào một ngày nào đó” đã viết như thế. Mở đầu, truyện mở ra trong lòng người đọc một cảm giác u mê mà lôi cuốn lạ lùng. Để rồi khép lại, nỗi “ám ảnh” đầy cuốn hút về cái chết của Jae Joon, một cái chết đầy dư vị đã cho tôi phải suy ngẫm về hai mảng: sự sống và cái chết của đời người…


Đây là một câu chuyện có thật, nhà văn không bao giờ phản ánh hiện thực một cách vô hồn, chụp ảnh đời sống như nó vốn có mà nhà văn gửi đến cho độc giả những triết lí của cuộc đời. Cái chết của Jae Joon là như vậy!
Jae Joon đã chết ở cái tuổi 16, chết ở cái tuổi đẹp nhất của con người…Cậu chết vì đi xe máy, để rồi làm Yoo Min phải day dứt, day dứt vì đã không làm tròn trách nhiệm của người bạn thân. Nhưng cái chết của Jae Joon không hẳn quá nuối tiếc bởi: Cậu đã yêu đơn phương sâu đậm một cô gái. Có lẽ cái chết là do tình yêu nhưng cậu chấp nhận. Jae Joon ra đi quá nhanh, nhưng có thể cậu đã hạnh phúc hơn nhiều người. Cậu đã có được tình yêu, gia đình, tình bạn thân và đam mê cháy bỏng. Dường như thế là quá đủ bởi vì cậu đã trải qua mọi cảm giác, gia vị ở đời. Và bạn biết đấy, chết mà được trải nghiệm hết còn hơn là sống mà không giúp ích cho cuộc đời. Nhưng bạn có bao giờ tự hỏi, mình sẽ chết vào một ngày nào đó chưa?
Qua sự ra đi của Jae Joon, ta còn phải biết sống thật ý nghĩa. Chẳng biết khi nào đến giới hạn cuộc đời nên đã sống là phải sống trọn vẹn. Đơn giản như sự đam mê thành diễn viên hài Sác-lô của Jae Joon. Sống là phải đúng chất “sống”, phải biết tận dụng thời gian để sống. Ở trên đời này mà sống vô nghĩa thì hãy thôi đi, bạn thật “vô tích sự”. Không ai bắt bạn phải trở thành ngôi sao hay xây một kim tự tháp để cho mọi người biết “Tôi đang sống”, mà bạn chỉ cần giúp ích cho cuộc đời từ những việc nhỏ nhất, làm điều mình yêu và dành tình cảm cho những gì gần gũi xung quanh mình. Hãy tạo cho mình một tâm hồn đẹp, đừng vô cảm và hãy nhìn cuộc sống với tràn ngập sự yêu thương. Có người đã nói : “Người sống nhiều hơn không phải là người cao tuổi hơn, mà là người biết sử dụng cuộc sống của mình tốt hơn”. Tôi tin, nếu sống đúng với bản thân và biết yêu thương, bạn sẽ chẳng bao giờ hối hận cả!
Quả thực đây là một cuốn truyện hay và đầy ý nghĩa. Như một sợi dây, nó liên kết tác giả và người đọc. Bắt đầu bằng bi kịch nhưng lại không hoàn toàn là đau thương, “Tôi đã chết vào một ngày nào đó” mang đến sức mạnh của một sự sống, một đời người và hi vọng vào những điều tốt đẹp trong tương lai. Dù đau thương thế nào thì : “Người chết cũng đã chết, người sống phải tiếp tục sống tốt mà thôi!”
Bạn là tác giả rồi viết. Tôi là độc giả để đọc. Sức mạnh và hi vọng của mầm sống mà cuốn sách này gửi gắm sẽ giúp tôi tặng lại cho bạn một tấm “”huy chương vàng “

ĐINH VÂN ANH

[Book of the year 2016] Hà Nội lầm than

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Tôi gắn bó với Hà Nội đã tròn mười năm. Những tưởng mình đã thấy những cảnh Hà Nội phồn hoa rực rỡ nhất cũng như những lúc thành phố này giấu trong mình sự khốn khó xót xa nhất. Nhưng không, tôi đã lầm. Xưa kia Hà Nội đã có những ngày lầm than đau đớn gấp bội phần. Trong thành phố đó, bên rìa sự nhộn nhịp sang trọng là mọi cảnh đời ê chề đau đớn.

Điều buồn nhất là những số phận khổ đau ấy phần lớn là phụ nữ. Nhưng có khi họ không còn được coi là phụ nữ mà trở thành những hình hài bủng beo nhão nhoẹt, những “kẻ thù của mọi người vợ và người mẹ”.

Qua ngòi bút phóng sự chân thực của Trọng Lang – trong vai một tay chơi sẵn sàng xộc vào tất cả những ngõ ngách cùng khổ nhất Hà thành – những mảnh đời dưới đáy xã hội đều được phơi bày dưới ánh sáng. Những gái nhảy, cô đầu, gái nhà thổ rồi bọn ăn mày. Bốn hạng người, bốn hoàn cảnh tưởng chừng không liên quan mà lại giống nhau đến kỳ lạ. Họ, đều chỉ là kẻ ngoài lề cuộc đời, sống bằng “lòng thương” của người khác. Họ, kẻ bán thân xác, tiếng cười nuôi thân, người bán “chuyện đời” tự dựng lên để có tiền.

Từ những gái nhảy luôn bốc mùi thối từ tận ruột gan đến những cô đầu ngày ngày ăn thứ thức ăn hổ lốn từ mọi thứ dư thừa khách hát bỏ mứa. Rồi bọn “đượi” nhà thổ dù còn trẻ trung nhưng đã không còn dáng hình con người tử tế, hay lũ ăn mày “thật” đói khổ lăn lóc ngoài đường và bọn “ăn mày cao cấp” dùng dăm câu tiếng Pháp xin sự thương hại từ những ông Tây bà đầm… Tất cả họ sống và chết mòn đi trong một cuộc đời tù túng xấu xa và bẩn thỉu mọi rợ. Nhưng kẻ làm nghề này lại thấy mình “còn hơn chán” kẻ làm nghề kia. Không ai biết mình đã chịu cảnh khổ của những con vật chứ không còn là con người nữa. Họ vẫn ung dung trong mảnh trời bé tí của mình, ngày ngày bằng mọi giá kiếm tiền nhưng vẫn không đủ ăn, dù bán đến manh áo cuối cùng cũng vẫn chỉ là kẻ mang nợ.

Cuộc sống khốn khổ khốn nạn của những người dân có lẽ trước đây đã từng quê mùa và nay vì lý do nào đó mà nhiễm bao thói thành thị xấu xa nhất ngày hôm nay lặp lại hệt như hôm qua. Những người khốn khổ ấy không còn tin vào những gì tốt đẹp nữa bởi lẽ họ chỉ gặp rặt những kẻ đê hèn và những sự kinh khủng.

Điều tôi thích thú nhất ở tập phóng sự này là dưới ngòi bút tỉnh táo của Trọng Lang tôi dù thấy được hết những mảnh lầm than của Hà Nội ấy nhưng lại không bị tác động cảm xúc bởi câu chuyện cuộc đời của họ. Bởi như Trọng Lang đã thuật lại, họ đều tự lựa chọn cuộc sống như thế cho mình, dẫu có bị dè bỉu khinh miệt. Có người vì không xa được “bát cơm đen”, có kẻ lại vì không muốn rời đô thành phồn hoa dù bản thân họ chẳng được ai công nhận là một phần của nó. Những sự phù phiếm đã che mắt họ, là điểm tựa cho họ vượt qua những đau khổ mà đến chính họ cũng cho rằng “chỉ có cái chết mới giải quyết được”.

Thật buồn khi biết Hà Nội ngoài những hào hoa phong nhã đã từng một thời lầm than đau đớn thế đấy. Đã từng một thời mà những kẻ khốn khổ chết đi bên vệ đường như một con vật cũng không ai đoái hoài như thế đấy…

HÁN BÍCH HẠNH

[Book of the year 2016] Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

 

NHƯ MỘT LỜI KINH CẦU
(Ngân Anh)

“Tại sao mẹ đem con đến thế giới này, tại sao?” – đó là lời tự vấn mở đầu và là câu thường xuyên tái lặp trong chuỗi độc thoại bi thảm của nhân vật chính khi nhận thức được có một giọt sống thoát ra khỏi hư vô để gắn chặt vào cơ thể mình. Xuyên suốt câu chuyện, người phụ nữ không có một danh xưng, chẳng có chi tiết nào đủ để hình dung về gương mặt, tuổi tác nhưng sự chân thành trong từng câu chữ của Oriana Fallaci đã chạm tới trái tim của rất nhiều độc giả, dù là nữ giới hay nam giới.

Cuốn sách được viết từ những năm 1975, khi nước Ý và dĩ nhiên, nhiều nước khác, “là một thế giới do đàn ông và vì đàn ông” (tr.16). Cái thế giới mà người ta ra rả nói rằng thời đại đã đổi thay nhưng một người phụ nữ mang thai khi chưa lập gia đình thường bị nhìn nhận là kẻ vô đạo đức, thiếu trách nhiệm. Có lẽ, chính từ nỗi ám ảnh về những luật lệ hà khắc, sự phân biệt và kì thị của chế độ độc tài ấy mà người mẹ, ngay từ giây phút đầu tiên đã muốn chối bỏ con mình. Giống như mẹ của bà – đã từng không muốn có bà, đứa con hình thành bởi lỗi lầm, bởi giây phút bất cẩn với kẻ khác. Nhưng bản năng của người mẹ đã xua đi mọi sự sợ hãi để bà hiểu rằng mang thai là sự nhiệm màu và việc được sinh ra, được “lăn rạng rỡ dưới ánh mặt trời” (tr.9) dẫu trong đau khổ, đói khát, nhục mạ vẫn hơn là chẳng – là – gì – cả. Được biết đến với tư cách là một nhà báo chính luận xuất sắc nhưng Oriana đã khéo léo đan cài các cung bậc cảm xúc: niềm vui, sự âu yếm, nỗi tuyệt vọng, cơn thịnh nộ, nỗi buồn, sự âu lo và niềm hy vọng trong quá trình hình thành của một bào thai từ lúc 3 tuần tuổi – 10 tuần tuổi cho đến lúc chết lưu và đi ra ngoài. Cuốn sách khép lại có thể làm thất vọng độc giả bởi không giống như những gì mong đợi, người mẹ đã chấp nhận cái chết của đứa con mình. Với bà, “sự bình đẳng, cũng như sự tự do, chỉ có […] trong bọc trứng” (tr.65).

Không có nội dung gay cấn, kịch tính; cũng không có tuyến nhân vật phức tạp, Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra là dãy tự sự cô đơn sầu muộn của người phụ nữ mong đợi một đứa trẻ, xem việc “làm mẹ không phải là một công việc. Thậm chí đó cũng không phải là một nghĩa vụ. Nó chỉ là một quyền trong rất nhiều quyền” (tr.16). Cuốn sách mỏng mảnh giống như một lá thư dài lời chạm đến lòng trắc ẩn của những ai đã đứng trước ngưỡng cửa được làm mẹ, những người đã từng tự hỏi bằng cách nào để bước qua nỗi đau không khác nhiều cái chết. Ẩn dưới bề mặt của từng câu chữ đầy muộn phiền mất mát là triết lý nhân sinh, tư cách giới, văn hóa giới rất đáng suy ngẫm. Một áng văn chương tuyệt vời của một người phụ nữ tinh tế.

HOÀNG NGÂN ANH

[Book of the year 2016] Cô gái năm ấy chúng ta cùng theo đuổi

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

“Trong cuộc đời này, bạn nhất định sẽ gặp những người khiến cho bạn muốn có một cỗ máy thời gian để quay trở về quá khứ.” Đó, là cô bạn tình đầu thân thiện dễ mến; là những cậu trai khờ dại, làm mọi điều điên khùng chỉ để dành được thiện cảm của bạn; là những đứa quái gở, luôn chọc cho bạn phát cuồng… Đó là Thẩm Giai Nghi, là Kha Cảnh Đằng, là đám bạn Tạ Mạnh Hòa… Đó, gọi là “tuổi trẻ”.

Thanh xuân luôn chất chứa những cảm xúc. Và cảm xúc trong cuốn nhật ký thanh xuân này của Cửu Bả Đao càng chân thực, sống động hơn bao giờ hết. Khờ dại, điên cuồng, nhiệt huyết…

Kế về những rung động đầu đời, tình yêu học trò giản dị mà day dứt. Tình cảm Kha Đằng và đám bạn tinh quái của mình dành cho Thẩm Giai Nghi, là kết quả tất yếu cho những ưu ái Thượng đế ban cho cô ấy. Cô gái sinh ra là để yêu thương.
Có nhiều cách để thể hiện tình cảm. Liêu Anh Hoằng chọn cách đơn giản nhất, trực tiếp tỏ tình. Trương Gia Huấn chọn cách phiền phức nhất, ngày ngày gọi điện thoại kể chuyện cà kê dê ngỗng. Tạ Mạnh Học, Tạ Minh Hòa dùng sở trường để thu hút đối phương. Kha Cảnh Đằng thì chọn cách khó khăn nhất, làm bạn.
Tuổi trẻ của họ trải qua với bài vở, thi cử, và cả những cuộc chạy đua tình ái. Dù là thất bại, bỏ cuộc, hay ù nhầm, nhưng nhờ cô gái nhỏ ấy, tuổi trẻ của họ không chỉ mơ hồ với tên gọi “Thanh xuân”. Tuổi trẻ của họ, có tên Thẩm Giai Nghi.
Thực ra, ngay từ đầu, Kha Đằng đã luôn chọn cách đặc biệt nhất để đối diện với Thẩm Giai Nghi. Và trong hôn lễ cô ấy, cậu ấy vẫn muốn là người đặc biệt nhất. Người duy nhất không hôn cô dâu.
“Nếu đám đông đang ồn ào náo động mà đột nhiên im lặng, tức là có thiên sứ vứa chậm rãi đi qua…”
Tám năm, và một mối quan hệ chẳng thể gọi tên. Kha Đằng và Thẩm Giai Nghi, họ chia tay dù chưa từng nói lời yêu. Cái kết không viên mãn ấy khiến tôi day dứt. Đọc ca từ của “Những năm tháng ấy”, tôi tự hỏi, Kha Đằng, cậu còn thấy đây là một cái kết ấm áp nữa không?

Nhưng tuổi trẻ đâu phải chỉ có tình yêu. Kể về tình bạn ngày đi học, ngớ ngẩn nhưng không vô nghĩa. Tình cảm ấy, đâu cần phải hoạn nạn có nhau. Tình cảm ấy, đơn giản chỉ là cùng quậy phá; cười đắc ý chỉ vì chơi xỏ được đứa bạn; âm thầm đấu đá nhau chỉ vì cùng thương một cô gái… Đó, là minh chứng cho một tuổi trẻ hết mình.
Rồi ai cũng sẽ bắt gặp bản thân trong thước phim quay chậm ấy. Ai chưa từng một lần “làm trò cười miễn phí trong giờ học”, chưa từng nhàm chán đến mức ngồi nói chuyện với mặt trăng hay bức tường, rồi từng một lần học hành cày cố để thể hiện với người mình thích… Thành công lớn nhất của “Cô gái năm ấy chúng ta cùng theo đuổi”, không phải là cốt truyện hay số phận nhân vật, mà là cách Cửu Bả Đao dẫn độc giả đến với thế giới họ từng sống. Không phải thế giới của nhân vật, mà là thế giới của chính độc giả. Ngôn từ, là phương tiện duy nhất, Cửu Bả Đao dùng để biến độc giả thành những tên ngốc, ngồi gật gù, bật cười, bật khóc trước những trang chữ vô tri…

Họ thiếu thanh xuân một cuộc hẹn. Tấm vé duy nhất để lên tàu, có tên Thẩm Giai Nghi. Chuyến đỗ, hồi ức.

PHẠM THỊ THẢO

[Book of the year 2016] Những Thành Phố Vô Hình

Bài dự thi Book of the year năm 2016 – do Nhã Nam Thư Quán tổ chức.

Marco Polo, nhà du hành vĩ đại của Phương Tây thời Trung cổ, với những chuyến đi huyền bí nhất thế giới. Ông từng đến thăm và sinh sống giữa vương triều Đại Nguyên (Trung Quốc), trong thời gian trị vì của Hoàng đế Hốt Tất Liệt, khi người Mông Cổ chiếm giữ Trung Hoa. Sự kiện có thật này đã được tác giả người Ý Italo Calvino khai thác, tạo nên một cuốn tiểu thuyết kỳ ảo: Invisible Cities (Những Thành Phố Vô Hình).

Invisible Cities là lời của nhà du hành vĩ đại kể cho Hốt Tất Liệt nghe về hành trình của mình. Hành trình qua những thành phố vô hình: những thành phố của ý tưởng, những giấc mơ, của quá khứ mờ xa và tương lai huyền ảo. Có 11 loại thành phố với các tên gọi đặc trưng: thành phố Mỏng, thành phố Ẩn, thành phố Tiếp diễn, thành phố và Dục vọng… để rồi từ lời kể của Marco Polo, vị Hoàng đế thấy trong giấc mơ “có những thành phố nhẹ như diều, những thành phố thưa thoáng như đăng ten, những thành phố trắng trong như màn ngủ, những thành phố gân guốc như lá…”

Italo Calvino luôn sống ở một thế giới khác. Thế giới của thằng bé sống cả đời trên cây, một chàng tử tước điên rồ chỉ có nửa phần cơ thể, một hiệp sĩ không hiện hữu… hay thậm chí của “chính bạn” phiêu du trong những thế giới chỉ có mở đầu, không có kết thúc. Và lần này cũng vậy, Calvino tiếp tục đưa bạn đến một thế giới kỳ lạ không kém: của những thành phố “vô hình” và những giấc mơ, không thực, không giả, ít sự kiện nhưng ngập tràn những chi tiết khiến người đọc ngẩn ngơ, mê mẩn.

Như Zora, thành phố của Ký ức, luôn để lại một hình ảnh lạ thường trong kỷ niệm. “Zora có cái đặc thù là ngụ lại trong ký ức từng li từng tí. Bí mật của nó nằm trong cung cách ánh mắt dõi nhìn những hình tượng tiếp nối nhau như trong một bảng tổng phổ mà ở đó dù chỉ một nốt nhạc cũng không thể thay đổi hoặc dịch chuyển.” Thành phố luôn tồn tại trong ký ức này giống như một kệ sách mà trong các ngăn, mỗi người có thể bày xếp điều mình muốn nhớ.

Còn Leonia, thành phố Tiếp diễn, ngày nào cũng làm mới chính mình: “sáng sáng cư dân thức giấc giữa tấm ga giường mới thay, tắm rửa với thỏi xà phòng vừa bóc bao, quàng chiếc áo choàng tắm rực rỡ kiểu mới, lắng nghe bản nhạc nhí nhảnh vui tươi mới ra…” Nền thịnh vượng của Leonia được đo bằng những gì mỗi ngày bị ném đi để dành chỗ cho những thứ mới.

Lại có những thành phố như Ipazia, “khu vườn hoa mộc lan nằm soi bóng trên mặt vịnh xanh biếc. Dưới đáy nước, đàn cua đang gặm mắt của những người tự tử, cổ buộc đá tảng, tóc phủ rêu xanh…”

Mỗi chương đoạn luôn mở ra và khép lại với hình ảnh của những thành phố hạnh phúc, rồi tan biến, ẩn vào trong những thành phố bất hạnh.

Invisible Cities là tác phẩm tiêu biểu cho khả năng sáng tạo của Italo Calvino. Tác phẩm này là môt tiểu thuyết? Có lẽ không phải, chính xác hơn nó là một tập tản văn giàu chất thơ và nhạc. Gấp lại cuốn sách, người đọc sẽ tự bật ra câu hỏi: Hôm nay thành phố đối với chúng ta là gì? Calvino từng nói: “Tôi nghĩ mình đã viết cái gì đó như thể một bài thơ cuối cùng về tình yêu thành phố vào thời điểm mà việc sống và trải nghiệm thành phố ngày càng trở nên khó khăn.” Có lẽ chúng ta đang tiến dần đến một thời điểm khủng hoảng của cuộc sống đô thị, Những Thành Phố Vô Hình là một giấc mơ huyền ảo sinh ra từ chính cuộc sống thực tại đầy tất bật và gò bó.

VÕ THANH HÀ

NÓI CHUYỆN VỀ VĂN HỌC HUNGARY CÙNG DỊCH GIẢ GIÁP VĂN CHUNG

Văn học Hungary, dù có nhiều tác gia và tác phẩm rất giá trị, vẫn chưa được biết tới ở mức xứng đáng trên thế giới. Tại Việt Nam, con số các tác phẩm văn học dịch từ tiếng Hungary cũng chưa được nhiều. Nhân dịp một kiệt tác của nhà văn người Hungary László KrasznahorkaiChiến tranh và Chiến tranh vừa được Nhã Nam giới thiệu trong thời gian gần đây, Nhã Nam trân trọng tổ chức chương trình gặp gỡ cùng dịch giả Giáp Văn Chung để cùng trao đổi về Văn học Hungary nói chung và về tác phẩm Chiến tranh và chiến tranh nói riêng.

Thông tin chi tiết:

Thời gian: 19h00 Thứ bảy 6/5/2017

Địa điểm: Nhã Nam Thư quán, Nhà 015 Lô B, Chung cư 43 Hồ Văn Huê, Phú Nhuận, TP.HCM

 

Chương trình sẽ được livestream trên fanpage Nhã Nam Thư quán

VỀ CHƯƠNG TRÌNH

Sự dị biệt, đơn lẻ và xa lạ của ngôn ngữ Hungary, bên lề những đại gia đình ngôn ngữ Châu Âu có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến nền văn học Hungary chưa tiếp cận được với đại đa số độc giả Việt Nam.

Trong hơn mười năm qua, dịch giả Giáp Văn Chung đã đưa độc giả Việt Nam tiếp cận một số tên tuổi lớn của một nền văn học lớn đến gần hơn với độc giả Việt Nam qua các tác phẩm như: Những ngọn nến cháy tàn, Bốn mùa, Trời và Đất, Casanova ở Bolzano, Lời bộc bạch của một thị dân của Márai Sándor; Thế giới là một cuốn sách mở của Lévai Balázs; Không số phận, Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời của của Kertész Imre; Cánh cửa của Szabó Magda, “bà hoàng của văn học Hungary” và gần đây nhất là Chiến tranh và chiến tranh của László Krasznahorkai.

Văn chương Hungary qua các thời kỳ như thế nào? Có những nét đặc trưng nào của một dân tộc với nhiều giai đoạn lịch sử thú vị? Những nét phác họa sơ thảo nhất về một nền văn học lớn này sẽ được dịch giả Giáp Văn Chung mang đến qua chương trình lần này

THÔNG TIN DIỄN GIẢ
Dịch giả Giáp Văn Chung | Ảnh (C) báo Nhịp Cầu Thế Giới

Dịch giả Giáp Văn Chung sinh năm 1953, là cựu du học sinh Khoa Giao thông, Ðại học Kỹ thuật Budapest thời kỳ 1970-1976. Say mê viết và dịch thuật, từ những năm tháng sinh viên, ông đã chuyển ngữ một số thi phẩm của các nhà thơ Hungary ra tiếng Việt. Hoạt động dịch thuật của tiến sỹ Giáp Văn Chung trở nên thường xuyên và liên tục khi ông bắt tay dịch và cho ấn hành “Những ngọn nến cháy tàn” – cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Hungary Márai Sándor vào năm 2007.

Kể từ đó đến nay, Dịch giả Giáp Văn Chung đã chuyển ngữ hơn 10 đầu sách văn học Hungary sang tiếng Việt. Năm 2011, ông được trao tặng giải thưởng “Pro Cultura Hungarica” vì những cống hiến trong hoạt động giới thiệu, truyền bá văn hóa Hungary tại nước ngoài. “Pro Cultura Hungarica” là giải thưởng thường niên được trao cho các công dân ngoại quốc đã có những công lao to lớn trong hoạt động giới thiệu và quảng bá các giá trị của nền văn hóa Hungary cũng như trong việc củng cố những mối quan hệ văn hóa giữa Hungary và các dân tộc khác trên thế giới.

Ra mắt sách SỐ KHÔNG của UMBERTO ECO

Nỗi sợ chết khiến trí nhớ thức tỉnh. Umberto Eco, Số Không

Trong khuôn khổ Những ngày văn học châu Âu 2017, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã NamĐại sứ quán Italia tại Hà Nội trân trọng tổ chức sự kiện Ra mắt sách Số không của tác giả Umberto Eco. Thông tin cụ thể như sau:

Thời gian: 16h00 ngày 08/05/2017
Địa điểm: Casa Italia, 18 Lê Phụng Hiểu, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Diễn giả:

  • Cô Nadia Marinelli – Giảng viên bộ môn Văn học Ý, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
  • Nhà văn Uông Triều

Điều phối: Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

VỀ TÁC PHẨM


Năm 1992, tại Milan, Colonna – một nhà văn, nhà báo “thất bại”, nhận được đề nghị cùng tham gia xuất bản Số Không, tờ nhật báo được giới thiệu là hình mẫu hoạt động độc lập, dám nói toàn bộ sự thật. Số báo đầu tiên, không đề ngày cụ thể, năm biên tập viên, ít nhiều cũng đều là những kẻ thất bại, chịu trách nhiệm bới lục quá khứ để tìm ra “mỏ vàng” bị lãng quên rồi từ đó cho ra những bài báo đào sâu kèm cách tiếp cận phong phú… nhưng dĩ nhiên theo hướng có lợi cho họ và cho chính chủ bút.

Trong quá trình tìm đề tài, một nhà báo đã phát hiện ra âm mưu thao túng toàn bộ thể chế, lịch sử, xã hội kể từ sau khi chủ nghĩa phát xít tan rã. Hàng loạt câu hỏi đặt ra chưa có lời giải đáp thì nhà báo đã phải bỏ mạng bên lề đường vắng, để lại phía sau mình những bí mật bị vùi sâu.

Số Không lột trần bộ mặt của báo chí Ý (đặc biệt là báo viết) đã thao túng làm nhiễu loạn thông tin và dẫn dắt dư luận theo hướng có lợi cho một nhóm người. Sau Nghĩa địa Praha, tác giả của Tên của đóa hồng và Con lắc của Foucault đã trở lại với một trong những chủ đề đặc biệt ưa thích: sự thật và dối trá.

Với Số Không, Umberto Eco đang phân tích thật rõ nét những biến chuyển của báo chí trong kỷ nguyên Internet. Le Soir.
Một bài văn đả kích giới truyền thông thật sâu cay Philippe Chevilley, Les Echos.
Tiểu thuyết gia người Ý đã tấn công trực diện nhưng cũng đầy hài hước vào những tì tật của cánh nhà báo chuyên săn scandal. Le Figaro
VỀ TÁC GIẢ
Umberto Eco là nhà văn, nhà lý luận, triết gia, nhà ký hiệu học lừng danh – người từng là biên tập viên các chương trình văn hóa của Đài truyền hình quốc gia Ý (RAI), là người viết bình luận của tờ báo lớn nhất nước Ý L’Espresso, là giáo sư ký hiệu học của Đại học Bologne, dạy mỹ học và văn hóa học tại các trường đại học Milan, Florence, Turin, tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học nước ngoài.

Umberto Eco sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại Alessandria, Ý, sau sống ở Milan. Thiên hướng đã thôi thúc ông làm trái ý cha, từ bỏ khoa Luật, chuyển sang nghiên cứu triết học và văn học Trung Cổ tại Đại học Turin. Trong thời gian này Umberto Eco trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin, trở thành người vô thần và từ bỏ Giáo hội Công giáo. Năm 1954, ông bảo vệ luận văn về Thomas xứ Aquino (Nhà thần học Công giáo nổi tiếng nhất thời Trung Cổ), đạt học vị tiến sĩ triết học.

Tờ Los Angeles Times đánh giá ông là “một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong thời đại của chúng ta.” Những tiểu thuyết đã vinh danh cho tên tuổi của ông: Tên của đóa hồng (Il nome della rosa -1980); Quả lắc của Foucault (Il pendolo di Foucault – 1988); Hòn đảo ngày xưa (L’isola del giorno prima – 1994); Baudolino (2000); Ngọn lửa bí ẩn của nữ hoàng Loana (La misteriosa fiamma della regina Loana – 2004); Nghĩa địa Praha (Il cimitero di Praga – 2010).