Bốn thỏa ước – Don Miguel Ruiz

Thiên về chỉ dẫn thực hành, nhưng Bốn thoả ước của Don Miguel vẫn bao hàm một hệ thống triết lý về vũ trụ và nhân sinh minh bạch, giản dị, trong đó con người là một phần của tự nhiên, hài hoà, sòng phẳng và không giới hạn. Bốn thoả ước có phần nào rất gần gũi với “Tứ diệu đế”- Khổ, Tập, Diệt, Đạo, bốn chân lý kỳ diệu của triết học phương Đông, chỉ dẫn con đường sống đầy đủ, hạnh phúc và tự do trong khả năng thiên phú của mỗi cá nhân, tránh khỏi ngộ nhận, ham muốn quá đà mà bỏ lơi chân tính.

KHÔNG PHẠM TỘI VỚI LỜI CỦA BẠN

Hãy nói bằng sự chân thành. Chỉ nói những gì bạn định nói. Đừng dùng lời để chống lại chính mình hay đồn thổi về người khác. Dùng sức mạnh ngôn từ của bạn dưới sự dẫn dắt của sự thật và tình yêu.

KHÔNG VƠ MỌI CHUYỆN VÀO MÌNH

Chẳng có gì người khác làm là vì bạn cả. Những gì người khác nói và làm là kế hoạch của họ, ước mơ của họ. Khi bạn không bị ảnh hưởng bởi ý kiến và hành động của người khác, bạn sẽ không trở thành nạn nhân của những đau khổ vô ích.

KHÔNG GIẢ ĐỊNH

Hãy can đảm để đặt câu hỏi và bày tỏ những gì bạn thực sự muốn. Thông tin cho người khác thì càng minh bach càng tốt, tránh gây hiểu lầm, buồn bực và cường điệu. Chỉ riêng với thỏa ước này, bạn đã có thể thay đổi cuộc đời mình hoàn toàn.

LUỐN LÀM HẾT KHẢ NĂNG CỦA MÌNH

Giới hạn cho khả năng của bạn không hề bất biến, lúc thế này, lúc lại thế khác; nó sẽ rất khác nhau khi bạn khỏe mạnh, đối nghịch lại những khi bạn đau yếu. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hãy cứ làm hết sức mình, và bạn sẽ tránh được sự dằn vặt chính bản thân mình, tự làm hại mình và hối tiếc.

Bốn thỏa ước
Don Miguel Ruiz
Sách có bán tại các Hiệu sách Nhã Nam.

CON CỦA NÓE: MỘT Ý NIỆM KHÁC VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG

Tác phẩm của Eric Emmanuel Schmitt thường súc tích trong một sự giản lược tinh tế, những câu từ hiện lên như tia sáng lóe trên những ngón tay nhà ảo thuật gia trong tích tắc, đồng hiện với tia sáng trong nhận thức. Ông trao cho ta những ý niệm khác dẫu giản đơn mà sâu sắc đến lạ. Trong tác phẩm con của Nóe, ông cho ta nhìn nhận một ý niệm khác về tình yêu thương.

Chúng ta luôn muốn trở thành một người biết yêu thương và được yêu thương. Tình yêu thương trở thành giá trị tối thượng, nó được rao giảng ở khắp mọi nơi, trở thành một bài học đạo đức cốt yếu. Nhưng vào những giai đoạn lịch sử khắc nghiệt, khi chiến tranh trở thành một trong những tình thế lớn nhất buộc loài người đối mặt với những vấn đề mang tính bản chất trong sự tồn tại của mình: Sự sống, cái chết, tình yêu, sự hi sinh,…, các giá trị hiện ra với tất cả tính bấp bênh của nó, lảo đảo trên một giới hạn mơ hồ của “cân bằng mong manh”. Trong Con của Nóe, Eric Emmanuel Schmitt chọn một trong những giai đoạn lớn nhất của lịch sử loài người, khi Hitler tàn sát người Do Thái một cách man rợ. Ông không đi sâu vào cuộc chiến, ông đi vào cuộc sống của những nạn nhân, mà ở đây nhân vật chính là Joseph – một đứa trẻ 9 tuổi người Do Thái. Cậu được cha Pons nhận nuôi trong tu viện Villa Jaune. Không đẫm máu, khắc nghiệt để như một quyển tiểu thuyết lịch sử, trái lại, nhẹ nhàng, trong trẻo qua những câu nói thơ ngây của đứa trẻ mà các vấn đề triết học được hiển hiện. Khai thác lịch sử trong tiểu thuyết, song lịch sử không phải là chủ đề chính mà là những con người đứng trước tình thế lịch sử đó, đã nhận thức được điều gì. Cha Pons – một cha xứ với tình yêu cao cả đã nói,

“ …ta tự hỏi mình, chẳng phải sự tôn trọng mang tính nền tảng hơn tình yêu hay sao ? Và cũng dễ thực hiện hơn…Yêu kẻ thù của mình như đức Jesus nói và chìa má còn lại ra, cha thấy điều đó thật đáng ngưỡng mộ nhưng không thể làm được… Tuy nhiên, liệu tình yêu có phải là một nghĩa vụ? Cha không nghĩ là được…

sự tôn trọng còn cao hơn tình yêu

…Nó là một nghĩa vụ liên tục không ngừng nghỉ. Điều này cha thấy là có thể. Ta có thể tôn trọng người ta không yêu thương hoặc người ta không quan tâm đến. Nhưng yêu thương họ ư? Vả lại, nếu ta đã tôn trọng họ rồi thì có nhất thiết phải yêu thương họ không?.Thật khó, tình yêu ấy à, người ta không thể tạo ra, không thể kiểm soát nó cũng như không thể kéo dài nó”


(c) Hoài Nam

Tình yêu luôn được cho là một giá trị phổ quát để xem xét con người, nhưng khi đi vào đời sống, khi nó đòi hỏi giá trị của hiện hữu cá nhân, thì ta cần xem lại. Chúng ta cần tình yêu, nhưng mỗi người cần tình yêu từ những điều khác nhau và ta cũng yêu những điều khác nhau. Hitler cũng yêu dân tộc của mình và yêu lí tưởng của mình, sao ta có thể nói được tình yêu ấy là sai. Vấn đề không phải là mâu thuẫn giữa yêu và ghét mà là mâu thuẫn giữa những điều mà chúng ta yêu, mỗi người có một lựa chọn cho riêng mình. Ta thường hay muốn người khác cũng yêu thứ mà mình yêu, nhưng chúng ta khác nhau, chúng ta không thể hoàn toàn sở hữu những giá trị chung. Tình yêu thật sự là một thứ cảm xúc, nó có thể được rao giảng trên lí thuyết như một thứ đạo đức, nhưng trên thực tế người ta không thể tạo ra, không thể kiểm soát nó cũng như không thể kéo dài nó.

Mà cảm xúc thì thật bấp bênh, nó nằm ngoài sự suy xét của lí trí. Khi tình yêu đến mức nào đó trở thành một biểu tượng cần sự tôn thờ của ý chí, con người trở nên tàn bạo. Người khác không yêu thứ như ta nên ta đâm ra ghét họ hay tệ hơn là ta ghét cái thứ mà người khác yêu, mà tệ nhất là ta biến tình yêu của mình thành một sự độc tài. Hitler đã biến tình yêu dân tộc mình thành một biểu tượng mà Hitler dùng ý chí lớn lao của mình để phụng sự nó, mong muốn áp đặt nó trở thành biểu tượng chung về tình yêu cho nhân loại. Khi ta chỉ chấp nhận một tình yêu duy nhất, nó đối nghịch với hàng triệu cái duy nhất ngoài kia của hàng triệu cá nhân duy nhất, nó trở thành một hiểm họa nếu con người không biết đến sự tôn trọng. Người ta như con lắc đi qua lại giữa hai thái cực yêu và ghét nhưng sao không ở thế cân bằng của nó là sự tôn trọng.

Sự tôn trọng là thứ ta có thể học được và mang tính nền tảng. Khi ta tôn trọng, ta đặt mình vào tình thế của kẻ khác và nghĩ cho họ, ta tôn trọng họ như ta tôn trọng chính ta. Xét cho cùng, tôn trọng được tạo nên từ sự cảm thông và mong muốn được thấu hiểu kẻ khác. Tình yêu, dẫu cao cả, nhưng mang tính chủ quan, do đó thu hẹp trong sự ích kỉ của một vài cá nhân, trong khi đó, sự tôn trọng lại mang tính khách quan, nghĩa là sẵn sàng mở lòng mình với tha nhân. Nhưng chỉ vậy thôi, ta không nhất thiết phải yêu thương họ. Trước khi ta có thể yêu ai đó, ta nên bắt đầu bằng việc tôn trọng họ. Sự tôn trọng là nền tảng của sự công bằng, tình yêu thương. Hơn hết, sự tôn trọng ta có thể học tập được, nó không bắt ta vứt đi thứ của mình yêu, không bắt ta phải sẵn sàng đón lấy kẻ khác vào cuộc sống của mình. Điều đó nghĩa là ta vẫn giữ được tính cá nhân của mình, ta yêu thứ mình yêu và ta để người khác yêu thứ mà họ yêu mà không phán xét. Không thể trở thành người ta yêu, chí ít hãy để họ là những tha nhân mà không phải kẻ thù.

ta yêu thứ mình yêu và ta để người khác yêu thứ mà họ yêu mà không phán xét
Với Con của Noé, Eric Emmanuel Schmitt đã phơi bày số phận nghiệt ngã của con người trong chiến tranh, đặc biệt là trẻ em với những cuộc đấu tranh sinh tồn và chấn thương nội tâm sâu sắc. Bằng cách khai thác một giai đoạn lịch sử đẫm máu, ông đã đặt lại một trong những vấn đề cơ bản nhất trong sự tồn tại của con người: Tình yêu. Nó được nhìn từ một góc độ tỉnh táo hơn : Sự Tôn trọng.
Tôn trọng là trung gian giữa yêu và ghét mà như Milan Kundera nói, để sống, ta cần có “Sự hiền minh của lưỡng lự”.
Xuân Trang.


[Quote] Nghìn ngày nước Ý, nghìn ngày yêu

Sicilia không phải là nơi lý tưởng cho những người ăn kiêng, và nhìn những quầy bánh ngọt bày biết bao thứ đặc sản nơi này, với những chiếc cassata hay cannoli, những quán pizza bốc mùi thơm phức, chỉ sợ những ai đang ăn kiêng bị stress đến mức thề sẽ không bao giờ ăn kiêng nữa. Trương Anh Ngọc

Nghìn ngày nước Ý, nghìn ngày yêu
Tác giả: Trương Anh Ngọc
Sách có bán tại các Hiệu sách Nhã Nam và các hiệu sách khác trên toàn quốc.

REVIEW CỦA WINNY: TUỔI TRẺ ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU? – ROSIE NGUYỄN

Đây là bài review của bạn Winny đăng trên blog cá nhân của bạn ấy.  Cám ơn bạn đã đồng ý để Nhã Nam đăng lại bài viết này

Ngay từ tựa sách đã thể hiện rõ đây là một quyển sách dành cho tuổi trẻ – đặc biệt dành cho tuổi trẻ hoang mang và lạc lối. Họ không biết mính thích gì hay sẽ làm gì, cảm thấy loay hoay và bế tắc với trường đại học khô khan hay công việc văn phòng nhàm chán, họ muốn thay đổi nhưng không biết bắt đầu từ đâu, không có mục tiêu cụ thể cho cuộc sống.

   Tác giả đã từng có một phần tuổi trẻ như thế, cũng có một quảng thời gian nhàn nhạt và nhàm chán, cũng đã từng gặp những cú sốc lớn đến mức suy sụp. Nhưng giờ đây, Rosie Nguyễn là một tác giả trẻ thành công và có những ảnh hưởng nhất định đối với người trẻ. Tác giả đã dùng chính những câu chuyện và kinh nghiệm của mình để chia sẻ, động viên và khuyến khích người đọc. Như chính tác giả đã chia sẻ ở phần lời giới thiệu, “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? là câu chuyện của một người đã sắp đi qua thời tuổi trẻ của mình, về việc làm thế nào để sử dụng tốt nhất quãng đời quý giá này của mỗi người. Học gì, làm gì, đi ra sao để cân bằng giữa trải nghiệm và công việc, để chuẩn bị hiệu quả cho cuộc sống tương lai, và có những năm tháng thanh xuân tuyệt vời rực rỡ.”

Quyển sách khuyến khích việc học không chỉ dừng lại ở trường lớp mà còn học từ trên mạng, sách, những chuyến đi xa, các công việc làm thêm, các công việc thiện nguyện. Tác giả nhấn mạnh những kỹ năng mà người trẻ còn thiếu: việc tự học từ mọi thứ và từ những vấp ngã thất bại, đọc sách và đọc như thế nào là hiệu quả, những chuyến đi cũng là một cách tự học, việc tìm ra và theo đuổi đam mê của mình và định nghĩa sự thành công. Những chủ đề này đã quá quen thuộc, nhưng đâu đâu cũng bắt gặp những câu hỏi kiểu như: nên học ngành gì, giờ em chán quá muốn thay đổi phải làm sao, em đang làm công việc này nhưng thấy không thích nữa, em không biết đam mê của em là gì, em bị gia đình cấm cản… Dường như rất nhiều người trẻ giống như những con cừu non ngơ ngác, bị nhồi nhét vào một khuôn khổ trường học nặng lý thuyết, học hành suốt mười hai năm rồi chẳng để làm gì, rồi đến lúc phải chọn trường – chọn nghề trong khi bản thân không hề có định hướng… Vì thế, quyển sách này đã chạm đến trăn trở của phần lớn tuổi trẻ. Từ những câu chuyện thực tế của chính tác giả và những người trẻ tuổi khác, quyển sách như một bạn đồng hành trên bước đường chập chững vào đời. 

   Tuổi trẻ quý giá lắm, trước hết là cho chính mình và sau đó là cho đất nước. Tuổi trẻ có những ưu điểm thiên phú: sức khỏe, sự nhanh nhạy, ham học hỏi, táo bạo, dám nghĩ dám làm, và một khi tuổi trẻ đã qua đi, ta nhận ra mình không thể liều lĩnh và nhiệt huyết như đã từng nữa. Tuổi trẻ thực sự chỉ có một lần, vì thế đừng ngần ngại làm những gì mình thích và mình muốn, sống theo cách của chính mình để từng phút giây của tuổi trẻ đều trở nên vô giá.

   Quyển sách được đón nhận tốt vì hướng đến nhóm đối tượng thật sự cần: cần được định hướng, cần được hiểu và cần được khuyến khích. Đây là một quyển self-help nhẹ nhàng và gần gũi, phù hợp cho những ai còn đang hoang mang trước ngưỡng cửa cuộc đời. Tuy nhiên, quyển sách chưa đưa ra câu trả lời cho cái tựa rất có tầm vóc “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?” mà nó chỉ là những câu chuyện hành trình, kinh nghiệm và chia sẻ của tác giả dành cho người trẻ. Cái tựa này sẽ phù hợp hơn cho một quyển sách khẳng định giá trị của tuổi trẻ đối với mỗi cá nhân, xã hội và đất nước.

   Sách tuy có vẻ sâu sắc nhưng chỉ dừng lại ở việc nói những gì mà người khác vẫn nói hoặc là những điều mà nhiều người có thể tự nghĩ đến (à, chỉ là nghĩ thôi chứ hành động cụ thể thì còn tùy người), vì thế với mình nó không tạo ra nhiều dấu ấn đặc biệt. Với thể loại self-help, người viết phải cực kỳ nhiều vốn sống và kinh nghiệm thì mới viết ấn tượng được, kiến thức và tư duy phải vượt lên trên mọi người thì mới tâm phục khẩu phục.

Đánh giá: 3/5.

Yêu thích: 3/5.

 

Những nhà khám phá: Cuộc phiêu lưu đầy thú vị

Cuốn sách viết về những cuộc phiêu lưu đầy kịch tính, hứa hẹn sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều khiến thức thú vị về thế giới. 

Daniel J. Boorstin từng tốt nghiệp Đại học Harvard, Yale và Oxford. Ông là sử gia người Mỹ và được mệnh danh là một trong những sử gia lớn nhất thời hiện đại. Trong con đường sự nghiệp của mình, Boorstin được chính phủ Nhật Bản trao tặng huân chương Nhất đẳng Thụy bảo vì đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu.

Những tác phẩm của Boorstin đồ sộ và bao quát với nội dung liên quan đến lịch sử nước Mỹ và thế giới. Một số cuốn sách nổi tiếng của ông như The Discoverers; The Creators; The Seekers; bộ ba đình đám The Americans: The Colonial Experience, The Americans: The National Experience giành giải Francis Parkman và cuốn The Americans: The Democratic Experience giành được giải Pulitzer.

Sách của Boorstin được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau, trong số đó có tác phẩm Những nhà khám phá (The Discoverers) của ông đã đến tay độc giả Việt.

Có thể nói Những nhà khám phá là cuốn sách nổi bật nhất trong bộ 3 sử thi của Boorstin. Cuốn sách là tập hợp những khảo luận đồ sộ, bao quát về cách thức nhân loại đã khám phá ra thế giới mặc dù còn dang dở.

Qua tác phẩm, Boorstin đã chứng tỏ mình là một cây viết bậc thầy. Ông kết hợp những mảnh tư liệu lớn trong kho tàng lịch sử trí thức trước đây lại thành cấu trúc mới theo trật tự logic. Tuy cuốn sách viết về khoa học nhưng không hề khô khan, nhàm chán. Ngược lại, với việc liên kết giữa các mạch văn sống động tác giả đã thu hút được nhiều bạn đọc đến với tác phẩm của mình.

Những nhà khám phá kể về những cá nhân kiệt xuất, những người tiên phong vạch lối mở đường tới những miền đất mới. Dù trên hành trình chinh phục thử thách ấy gặp rất nhiều khó khăn nhưng bằng niềm tin, sự cẩn trọng cùng ý chí và quyết tâm sắt đá họ đã thành công.

Trong tác phẩm, bạn đọc sẽ được giải đáp những câu hỏi về sự phát triển của vũ trụ trong gần 2 thiên niên kỷ qua. Đó là những cá nhân từ thời Ptolemy qua Copernicus, từ Newton tới Einstein… Bên cạnh đó, các nhân vật giúp ta mở rộng tầm nhìn, hiều thêm về thời đại Khám phá vĩ đại và Tự nhiên muôn màu… rồi đi xa hơn nữa. Cứ thế, những bí ẩn về thiên nhiên dần dần được hé mở.

Không chỉ tóm tắt lịch sử của thời đại, cuốn sách chứng minh rằng con người có thể tự tay tạo dựng lên lịch sử của chính mình, bằng những cá nhân không ngừng đào sâu và tiên phong đi những con đường chẳng mấy ai bước qua.

Bên cạnh đó, Những nhà khám phá còn cung cấp thêm cho chúng ta những cái nhìn đầy đủ về con đường mà trí thức phát triển gặt hái được thành tựu như ngày nay. Nhấn mạnh một lần nữa sự phát triển của lịch sử loài người luôn có sự gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển của trí thức, tư duy nhân loại. Chúng được kế thừa và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác, có hệ thống và trật tự nhất định.

Tuy The Discoverers (Những nhà khám phá) mở đầu cho tác phẩm bộ 3 lịch sử thế giới bao gồm The Creators (Những nhà sáng tạo) và The Seeker (Những nhà tìm kiếm). Thế nhưng, Những nhà khám phá lại được coi như một tác phẩm độc lập, vượt trội hơn 2 cuốn còn lại. Tác phẩm này thích hợp cho những ai muốn biết về lịch sử thế giới đã được khám phá như thế nào.

Nguyên Phương
Bài viết đã đăng trên Zing News

REVIEW CỦA WINNY: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai – TRACY CHEVALIER

   Mình đến với quyển sách này phải nói là hoàn toàn tình cờ. Lần đầu tiên nhìn thấy cũng là lúc quyết định mua. Khi đó mình đang trong cửa hàng sách Nhã Nam tại đường sách Nguyễn Văn Bình. Thứ hấp dẫn đầu tiên là cái tựa “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai”, bởi những thứ liên quan đến thiếu nữ mình cho là đại diện cho sự trong sáng, trinh nguyên và thuần khiết. Mình đọc những dòng giới thiệu ở bìa bốn hai lần và đã quyết định mua nó ngay. Thú thực là mình không có thói quen đọc thử phía trong, chỉ bìa bốn và cùng lắm là thêm những thông tin của tác giả ở bìa gấp. Mình hoàn toàn chưa biết gì về quyển sách này trước đó, giờ quyết định mua chỉ là thử một lần đặt cược. Trong số những quyển sách mới mua về, mình đã chọn đọc nó trước tiên. Chỉ là một quyển sách tương đối nên chỉ trong một ngày rưỡi thì mình đã đọc xong.

(C) Winny Win Winny

   Nội dung đã được giới thiệu ở bìa bốn quyển sách. Câu chuyện được lấy cảm hứng từ bức danh họa “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai” của họa sĩ Johannes Vermeer, một danh họa người Hà Lan sống ở thế kỷ 17. Vì hoàn cảnh gia đình, Griet đến nhà vị họa sĩ làm hầu gái lo việc giặt giũ, nấu ăn, trông nom những đứa con, dọn dẹp phòng vẽ. Ban đầu chỉ là như thế nhưng dần dần Griet được Vermeer giao cho việc nghiền màu, pha màu, đi mua màu vẽ… dần dần trở thành một phần công việc của Vermeer cũng như trở thành nhân vật chính trong bức tranh để đời. Rồi giữa họ nảy sinh những rung cảm thầm kín nhẹ nhàng, gây ra những ghen tức, lừa dối trong gia đình vốn nề nếp và bình yên.

   Truyện được kể ở ngôi thứ nhất qua góc nhìn của Griet. Cô gái nhỏ mười sáu tuổi nhưng già dặn, thông minh và tinh tế hơn so với tuổi hay thân phận. Những câu văn đơn giản hết mức, rất ít nghệ thuật trong đó nhưng vẫn toát lên sự tỉ mỉ và gợi cảm. Tỉ mỉ và chi tiết ngay cả việc lau dọn phòng vẽ. “Từ chỗ bức thư, tôi dùng tay để đo khoảng cách tới chiếc chổi lông, sau đó đặt các ngón tay của mình vào những điểm khác nhau ở một bên chiếc chổi lông. Tôi nhấc nó lên, lau bụi, đặt nó lại vào chỗ cũ, rồi đo khoảng cách từ đó đến bức thư”. Griet có con mắt nghệ thuật tinh tế kỳ lạ, chính điều đó đã đưa cô đến gần hơn thế giới của Vermeer. Cách cô miêu tả từng chi tiết của ánh sáng, màu sắc, từng dáng vẻ cử động của người mẫu trong bức tranh, dường như có thể thấy bức tranh sống động hiện ra ngay trước mắt. “Con gái người thợ nướng bánh đứng trong một góc sáng sủa bên cạnh cửa sổ. Cô ta đối mặt với chúng ta nhưng lại nhìn ra bên ngoài cửa sổ, nhìn xuống bên phải. Cô ta mặc một cái áo chẽn bằng lụa và nhung, màu vàng pha đen, váy màu xanh đạm, và một chiếc mũ trắng rủ hai vạt xuống dưới cằm cô ta”, “khi cha nhìn chiếc mũ đủ lâu, cha sẽ thấy ông ấy vẽ nó không hoản toàn màu trắng, mà hơi có màu xanh, tím rồi lại vàng”.

   Cũng chính những câu văn giản dị trong sáng ấy đã đưa Griet đến với sự rung cảm đầu đời dành cho ông chủ của mình. Đó là một cảm xúc không lời, thầm lặng, đến với Griet một cách kín đáo và êm ái. Đến khi hay biết, cô đã đắm chìm trong nó. Bước lên lầu nơi có căn phòng vẽ với tranh, màu sắc, ánh sáng, đó là một thế giới khác xa sự nghèo đói của gia đình, sự vất vả của công việc hầu gái, mùi máu tanh của anh hàng thịt, đó là một thế giới đầy mộng mơ và đẹp đẽ, cô đã dành tình yêu cho thế giới đó cũng như cho chủ nhân của căn phòng đó. Griet chợt xuyến xao trước những đụng chạm vô tình, chợt đỏ mặt trước cái nhìn chăm chú… quá đỗi nên thơ và dịu dàng, hoàn toàn không vướng chút xác thịt trần tục, để lại những khắc nghiệt của cuộc sống mưu sinh phía sau. Lần đầu tiên trong đời Griet biết có những thứ đẹp đẽ như thế, lần đầu tiên trong đời sự nhạy cảm nghệ thuật của Griet có người nhìn nhận và thấu hiểu. Điều này là rất quan trọng, bởi đâu phải ai cũng được người khác nhìn ra và công nhận những khao khát về cái đẹp tột cùng trong con người mình. Vermeer chưa từng vẽ vợ của mình bởi vì cô không hiểu, nhưng ông đã dành trọn tâm huyết cả đời mình vào bức tranh vẽ Griet. Giữa Vermeer và Griet, chợt nhận ra là họ thấu hiểu và đồng điệu nghệ thuật đến kỳ lạ.

   Rất khó để nói họa sĩ Vermeer có dành lại chút rung cảm tình yêu tương tự như của Griet không. Trong mắt Griet thì ông luôn hiện ra với hình ảnh của một họa sĩ gắn liền với những bức tranh, để việc nuôi dạy con cho vợ và việc bán tranh cho người mẹ. Ông hoàn toàn đắm chìm vào thế giới của riêng mình, dường như là đang trốn chạy thực tại khó khăn với những khoản nợ, giấu mình vào những bức tranh. Người họa sĩ cả đời chỉ có những bức tranh, tạo cho mình một thế giới riêng với những bức tranh được vẽ trong hàng tháng trời bất kể việc bán tranh là kế sinh nhai duy nhất của cả gia đình tám người và hai người hầu. Đó là bi kịch của một thiên tài. Người bảo trợ duy nhất của Vermeer là Ruijven, nhưng vì thế mà ông ta muốn gì được nấy kể cả những hành động khiếm nhã với Griet và muốn có được một bức tranh với cô. Tuy sau đó Vermeer đã thỏa thuận chỉ vẽ bức tranh một mình cô nhưng vẫn là buộc Griet làm điều cô không thích, kể cả buộc cô phải đeo đôi hoa tai ngọc trai khi cô vốn không hề có lỗ xỏ hoa tai. Griet đã phải chịu đau đớn và tai sưng tấy để thỏa mong muốn của Vermeer. Là nỗi đau của tình yêu, cũng là nỗi đau vì nghệ thuật. Nhưng đến cuối cùng, người đàn ông mà cô đã dành trọn tình yêu thuần khiết đầu đời ấy lại không thể bảo vệ cô khi vợ Vermeer buộc tội cô lấy cắp đôi hoa tai. Cô đã lựa chọn rời xa khỏi cái thế giới là một mớ bòng bong của tình cảm, giả dối, thủ đoạn và ghen ghét đó. Vốn dĩ cái thế giới ảo mộng ấy không dành cho cô, cô đã lựa chọn cuộc sống thực tế và khôn ngoan hơn với Pieter anh hàng thịt. Kể cả khi được Vermeer để lại đôi hoa tai khi ông mất, Griet vẫn quyết định bán nó đi. 

   Vẻ đẹp của câu chuyện không đến từ những kịch tích dồn dập mà thật chậm rãi và trong veo. Nó đến từ sự đơn giản và tinh tế trong từng câu chữ và chi tiết. Griet với sự thông minh và tỉ mỉ dần dần chinh phục trái tim người đọc cũng như một phần nào đó trái tim Vermeer. Có thể Vermeer không yêu Griet mà chỉ nhìn nhận cô với con mắt cảm thụ vẻ đẹp của một họa sĩ nhưng giữa họ đã nảy sinh những xúc cảm đồng điệu về tâm hồn và nghệ thuật. Vermeer có thể yếu đuối, ích kỷ trong thế giới riêng của mình và thiếu bản lĩnh nhưng ít ra cũng đã dành cho Griet sự trân trọng những thứ mà cô chưa từng được trân trọng. Cho dù đó là lần duy nhất trong đời, nhưng những dư vị ngọt ngào của nó là đã đủ cho cả một đời người tạo nên kiệt tác.

   Yêu thích: 4.5 / 5.

Cám ơn bạn Winny đã đồng ý cho Nhã Nam đăng lại bài viết này.

Tên tác phẩm: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai.

Tên gốc: Girl with a pearl earring.

Tác giả: Tracy Chevalier.

Quốc gia: Anh.

 

[Quote] Chết cho tư tưởng

“Không phải ngẫu nhiên mà đặc điểm nổi bật nhất ở hành động của kẻ tự thiêu lại là sự im lặng. Đối lập với những người thích lập ngôn, họ không nói năng gì trước khi chết. Những gì được nhớ lại nhiều nhất về hành động tự thiêu của Thích Quảng Đức là sự im lặng lạ kỳ xảy ra ngay giữa ngã tư: ông chậm rãi toạ thiền, không thốt ra một lời nào… và chậm rãi biến mất vào ngọn lửa…”

Chết cho tư tưởng
Costica Bradatan
Trần Ngọc Hiếu dịch.

Những nụ hôn điện ảnh: Trôi dạt trong ký ức

Cuốn sách chứa đựng hai câu chuyện tình xen lẫn trong nhau, một chuyện tình của Gilles Hector với điện ảnh, và một mối tình si của anh với người phụ nữ đã có gia đình, Mayliss.

Hai câu chuyện tình đều được kể với giọng điệu tự sự mùi mẫn, ủy mị, giống như phong cách của những bộ phim tình cảm Mỹ vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ. Nó gợi nhắc về những hoài niệm lãng mạn một thuở.

Hai câu chuyện cũng được kể trong bầu không khí đan xen của ánh sáng và bóng tối, giữa trắng và đen, hai màu của điện ảnh thời kỳ đầu cho đến khi phim màu xuất hiện, cùng với tất cả những cái tên đã đi vào tiềm thức của bất kì ai yêu mến điện ảnh nói chung, và “làn sóng mới” của Pháp nói riêng.

Một chuyến viễn du vào miền quá khứ, nơi một luật sư cứ mải miết đi xem những bộ phim cũ kỹ của Truffaut, Claude Trabrol, Eric Rohmer… để tìm kiếm một gương mặt có thể là mẹ mình, và cũng trong miền viễn du đó, ông cũng yêu bóng tối, Mayliss, một người đàn bà đã có gia đình, vụng trộm, thèm khát, đam mê dục vọng nhưng dằn vặt, lo sợ, bối rối và đầy ghen tuông.

Người đàn ông trung niên cứ mải miết đuổi theo hình bóng về người mẹ mà mình chưa bao giờ nhìn thấy mặt thông qua những gương mặt phụ nữ hiễn hữu khác, để rồi lùi về quá khứ càng sâu, những hình ảnh ấy càng trở nên mơ hồ, lâng lâng giữa những cung bậc hư hư thực thực. Nhưng những hình ảnh ấy, cùng với sự mơ hồ ấy đã đeo đuổi ông suốt khoảng thời sống, khiến tâm trí ông chất chồng trong những cảm xúc của mất mát, cô độc và bị thít chặt bởi sợi dây quá khứ, tưởng như có lúc ông đắm hẳn vào trong đó, không còn lối thoát.

Nhưng rồi, cùng với vụ cháy xưởng phim cũ của người cha, dường như là một hành động cởi nút cuối cùng, đẩy ông về thực tại, nhận biết mình ở thực tại, và bắt đầu nhìn thấy ánh sáng thực tại nơi cuộc sống. Đó là khi cuộc truy vấn dừng lại.

Cái ánh sáng nhòe nhòe và lấp lánh của ký ức phủ kín cuốn sách, khiến người đọc nhiều khi cảm thấy ngột thở bởi một hành trình riêng tư đến thế của con người. Nhưng cũng chính ký ức đã tạo nên thức màu sắc mùi vị quyến rũ đối với bất kì ai trong chúng ta. Ai cũng có câu chuyện của riêng mình, câu chuyện về một hành trình đi vào tâm trí.

Những nụ hôm điện ảnh là cuốn sách ắp đầy hoài niệm, hoài niệm về một dĩ vãng đã qua, về mối tình đã mất, và về một hình dung dường như chưa bao giờ tồn tại, một thứ phức cảm đầy phức tạp, khiến nhân vật tôi cứ phải đeo đuổi như đeo đuổi một bóng ma, để rồi gặp một bóng ma khác, là người tình bí mật của mình.

Nửa đầu sách có đôi chút nhàm chán, nhưng nửa sau là những dòng kí ức rực rỡ, cuốn ta vào một thế giới mà ở đó, nó giống những thước phim đen trắng của Truffaut, nơi nhân vật không nói gì, chỉ đứng lặng đó, để khán giả đi thẳng vào trong dòng chảy suy nghĩ của nhân vật. Với lối kể dòng ý thức miên man giữa hiện tại và quá khứ, tác giả đã xóa nhòa ranh giới của lối kể chuyện thông thường. Đi theo hành trình của  Gilles Hector, có lúc giật mình ta không rõ mình đang đi về phía trước hay càng lúc càng chìm đắm trong những câu chuyện ký ức của chính ta.

Đây thực là cuốn sách sặc mùi ái tình, và nó khiến trái tim ta dễ sa ngã vào lòng mê đắm. Chất ái tình được thể hiện rõ trong tác phẩm khi xây dựng những khung cảnh đầy sắc nét, đặc biệt Eric Fottorino đã tạo nên được những góc sáng mơ hồ hư ảnh, rất dễ khiến độc giả mê mụ.

Trong tác phẩm, Eric Fottorino viết: “Tôi không hay biết gì về nguồn gốc của mình. Tôi sinh ra tại Paris từ một người mẹ không biết mặt còn bố tôi chuyên chụp ảnh các nữ diễn viên. Ít lâu trước khi qua đời, ông mời thổ lộ với tôi rằng, tôi có mặt trên đời này là nhờ một nụ hôn điện ảnh”. Những nụ hôn điện ảnh là duyên cớ để bắt đầu câu chuyện về những tâm hồn cô độc trong thành phố.

Chuyện một người lạc lõng giữa thành phố, và mất dấu vết về quá khứ dễ khiến độc giả cảm thấy gần gũi với những câu chuyện về Paris của tác giả Patrick Modiano, người si mê truy tìm ký ức. Hình ảnh người đàn ông đi loạng choạng trong ánh chiều vàng của thành phố, thật khiến ta nhớ đến hình ảnh Lost in Translation của đạo diễn Sofia Coppola. Những không gian của ký ức, không gian của kiếm tìm và truy vấn về nguồn gốc của bản thân. Phải chăng, mỗi cá nhân chúng ta, sinh ra đều mang trong mình những tâm tư trăn trở ấy.

Một cuốn sách đã tìm cách bóc tách thân phận cô đơn của cá nhân trong lòng thành phố một cách rất êm dịu và rất tình. Đó là cái nhấn nhá của một kẻ đã rất thanh thản với đời, trông vào nỗi đau của nhẹ bẫng của Eric Fottorino. Và cuốn sách, cũng sẽ cung cấp cho người đọc những cái tên phim điện ảnh thực sự “chất”, dù chỉ là những cái tên thôi. Nhưng đôi khi, ta cũng chỉ cần những cái tên như thế để bắt đầu một câu chuyện thú vị, như cái tên mà Patrick Modiano đã nhắc đến trong tiểu thuyết Để em khỏi lạc trong khu phố là một ví dụ xác đáng.

Những nụ hôn điện ảnh là cuốn sách thứ 8 của Eric Fottorino, xuất bản năm 2007, đã đạt giải thưởng văn học Femina.

Sách mới của Guillaume Musso: Một căn hộ ở Paris

Un appartement à Paris là tên cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn nổi tiếng người Pháp Guillaume Musso. Hiện Nhã Nam đã mua bản quyền và sẽ xuất bản bản tiếng Việt trong năm 2017.

Đây là phần giới thiệu trên trang web của tác giả: 

“Nghệ thuật là một lời nói dối nói lên sự thật …”
Ở Paris, có một xưởng vẽ nằm khuất lẩn ở cuối con hẻm rợp bóng cây xanh. Madeline đã thuê nó để nghỉ ngơi đồng thời tạm lánh khỏi sự ồn ào của thành phố. Vì một sự hiểu lầm, cô nàng cảnh sát trẻ đến từ London đã gặp Gaspard, một nhà văn ghét đời đến từ nước Mỹ ở trước cửa căn hộ. Hai tâm hồn nhạy cảm này buộc phải sống chung vài ngày.
Xưởng vẽ này từng thuộc về họa sĩ nổi tiếng Sean Lorenz, và nó vẫn tỏa ra niềm đam mê của ông đối với màu sắc và ánh sáng. Sean Lorenz bị cái chết của người con trai hạ gục và đã qua đời một năm trước khi họ đến đây. Ông để lại ba bức tranh, nhưng chúng đều đã biến mất.
Bị thu hút bởi tài năng và số phận nghiệt ngã của người họa sĩ, Madeline và Gaspard quyết định hợp sức để tìm lại những bức tranh nghe đồn là vô cùng đặc biệt kia.
Nhưng để vạch trần bí mật thực sự của Sean Lorenz, trước tiên, họ sẽ phải đối mặt với bóng ma của chính mình trong cuộc điều tra sẽ thay đổi cuộc đời họ mãi mãi này.