REVIEW CỦA WINNY: TRAO EM MẶT TRỜI – JANDY NELSON

Đây là bài review của bạn Winny đăng trên blog cá nhân của bạn ấy.  Cám ơn bạn đã đồng ý để Nhã Nam đăng lại bài viết này

Chị với tay tới, dựng tập giấy vẽ lên, chăm chú ngắm nhìn bức chân dung như thể đang trông đợi anh chàng người Anh trò chuyện với mình.

“Được rồi”, chị bảo. “Cây cối, những vì sao, biển cả. Tốt thôi.”

“Cả mặt trời nữa, Jude.”

“Ồ, thôi được rồi,” chị nói, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. “Chị sẽ cho em mặt trời.”

Noah và Jude, họ là một cặp song sinh nhưng chẳng ai bảo họ giống một cặp song sinh. Noah là một tên nhóc rụt rè, kỳ quặc, lúc nào cũng ôm khư khư cuốn sổ phác họa để vẽ lại tất cả những gì cậu thấy và cậu tưởng tượng. Còn chị của cậu, Jude, thì hoàn toàn ngược lại, cô xinh đẹp, nổi bật, mái tóc vàng rực rỡ thường xuyên được ngợi ca, tài lướt sóng điêu luyện và có hàng tá con trai theo đuôi. Nhưng chỉ hai chị em biết, họ rất giống nhau: chỉ có thể chơi đàn piano khi có cả bốn bàn tay trên những phím đàn, không thể chơi oẳn tù tì bởi đều ra giống hệt nhau, cùng chia sẻ những vui buồn tương thông mà chỉ những cặp sinh đôi ở bên nhau từ những tế bào đầu tiên mới có thể hiểu được. Đặc biệt, hai chị em đều sở hữu năng khiếu nghệ thuật từ mẹ: Noah vẽ những bức vẽ sống động đáng kinh ngạc còn Jude thì nổi bật với tài tạo hình và điêu khắc. Mẹ của họ hết sức hào hứng để cả hai chuẩn bị hồ sơ nộp vào trường Trung học nghệ thuật CSA. Trong khi Noah phát hiện ra những rung động đầu đời của mình dành cho cậu bạn hàng xóm Brian thì Jude ngày càng say mê anh chàng hư hỏng có biệt danh Zephyr.

Continue reading “REVIEW CỦA WINNY: TRAO EM MẶT TRỜI – JANDY NELSON”

Review “Chiến tranh và chiến tranh – Krasznahorkai László” của Phía nhà Z

Cuối cùng thì, sau rất nhiều chờ đợi, Krasznahorkai László cũng đã đến Việt Nam qua bàn tay của dịch giả Giáp Văn Chung, một cái tên đã quá quen thuộc. Trước hết, phải nói rằng, chỉ riêng lựa chọn chuyển ngữ tác phẩm của Krasznahorkai đã là một sự dũng cảm. Và dù rằng, tôi nghĩ sẽ ít, rất ít người quan tâm bản dịch trôi chảy và vô cùng cuốn hút này thì sự hiện diện của nó quả là món hời với độc giả xứ ta. Năm 2017 quả nhiên hứa hẹn lắm thóc đãi gà rừng.

Bạn có thể mua sách này tại các Hiệu sách Nhã Nam.

Cẩm nang đốt nhà các văn hào New England – Khi quá khứ thích đùa dai (docsach.org)

Đầu tiên, tôi phải báo trước với các bạn rằng đây hoàn toàn không phải là một cuốn sách kỹ năng, có nghĩa là những ai đang thù hận ai đó, như cái cách người ta thường nói: “ta sẽ đốt nhà ông/bà ấy cho bõ ghét.” muốn tìm một cuốn cẩm nang về việc đốt nhà, với sự chỉ dần từng bước phải làm thế nào thì hãy tránh xa cuốn sách này ra, đây không phải là cuốn sách các bạn cần đâu. Vậy cuốn sách này dành cho ai? Đầu tiên là những người yêu thích sự hài hước vì xuyên suốt cuốn sách là một chuỗi những sự kiện cười ra nước mắt, thứ nữa, dành cho ai yêu thích văn chương, vì các nhà văn/nhà thơ cổ điển cứ lần lượt được nhắc tới trong sách, dù sau đó nhà các vị này có cháy ra thành tro đi chăng nữa nhưng tôi nghĩ vẫn rất đáng để thử, ngoài ra ai đang có rắc rối với bố mẹ mà không biết gỡ cái mớ bòng bong ấy từ đâu thì cuốn sách này sẽ giúp bạn (hoặc không giúp được tí nào cả, ai mà biết được).

(Vì chưa xin phép tác giả, Nhã Nam chỉ trích một đoạn ngắn, các bạn có thể xem trọn bài review này ở đường link bên dưới)

Lời giới thiệu sách Đồng tiền lên ngôi của tiến sĩ Trần Vinh Dự

Tiền, tiền, và tiền… Từ hàng nghìn năm nay tiền luôn gắn liền với cuộc sống con người. Nó trở nên quen thuộc đến nỗi người ta coi sự tồn tại của nó là hiển nhiên. Trong xã hội hiện đại này khó có thể tìm ra một người trưởng thành không biết đến sự tồn tại của tiền, hoặc không biết cách sử dụng tiền.

Thật ra, sự tồn tại của tiền hoàn toàn không tự nhiên. Mặc dù không ai biết chính xác tiền xuất hiện từ khi nào, nhưng rõ ràng nó là một khái niệm rất mới trong lịch sử tồn tại của loài người. Có thể nói không ngoa rằng tiền là một phát minh vĩ đại nhất về mặt kinh tế của loài người cho đến nay. Tại sao? Vì tiền là một thước đo chung của mọi loại sản phẩm và dịch vụ. Với thước đo chung này, mọi thứ hàng hóa dịch vụ có thể được quy đổi thành một con số và làm cho việc trao đổi chúng trở nên đặc biệt dễ dàng. Không có tiền, không có nền kinh tế hàng hóa, không có thị trường, không có khoa học công nghệ và xã hội hiện đại.

Nhưng tiền không đơn thuần chỉ là… tiền. Với một bà nội trợ khi đi chợ mua thực phẩm, tiền đơn giản là những mảnh giấy do ngân hàng trung ương phát hành có mệnh giá nhất định (tiền mặt) hoặc tiền điện tử dưới dạng thẻ ngân hàng (thẻ ghi nợ – debit hoặc thẻ tín dụng – credit). Với một nhà đầu tư, tiền có thể là nhiều loại tiền mặt (do nhiều ngân hàng trung ương phát hành), vàng, tiền gửi không kỳ hạn trong ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, các giấy tờ sở hữu (nhà cửa, tài sản), các hợp đồng quyền chọn (option), các loại hàng hóa (bạc, nhôm, đồng, thậm chí gạo, lúa mì…) và vô số các công cụ tài chính phức tạp khác. Các loại “tiền” này khác nhau ở tính thanh khoản và có giá quy đổi nhảy múa từng giây từng phút trên các sàn giao dịch. Có thể nói, tiền trong xã hội hiện đại ngày nay là một sản phẩm do con người tạo ra và có quá trình tiến hóa hàng nghìn năm, trở nên đặc biệt phức tạp và có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn đối với xã hội loài người hiện đại.

Và như vậy, để tìm hiểu một cách thấu đáo và đầy đủ về tiền là một việc hoàn toàn không đơn giản. Rất may là phần lớn các tri thức này đã được Niall Ferguson hệ thống hóa một cách khoa học và trình bày một cách hấp dẫn trong cuốn sách mà quý vị đang cầm trên tay, cuốn Đồng tiền lên ngôi (The Ascent of Money).

Đồng tiền lên ngôi được mở đầu với một phần hướng dẫn bao quát về lịch sử của thế giới với sự phát triển và suy tàn của nhiều mô hình xã hội sử dụng và không sử dụng tiền tệ. Theo tác giả, tiền không đơn thuần là một phương tiện để phục vụ việc trao đổi, giao thương. Với quá trình hình thành được dẫn ngược về các định dạng thô sơ nhất của tiền tệ như những phiến đất sét từng được sử dụng cho việc ghi chép các hoạt động nông nghiệp của khu vực Lưỡng Hà, tiền tệ còn được xem như là “vấn đề của niềm tin, thậm chí là đức tin”.

Từ đó, tác giả dẫn chúng ta qua các chủ đề về hệ thập phân và phương thức tính lãi, những khái niệm gốc rễ của tài chính hiện đại; sự tham gia của người Do Thái trong lịch sử phát triển tài chính cùng hoạt động cho vay nặng lãi và sau đó là sự đi lên của thế lực tài chính hùng mạnh Medici tại Florence vào thế kỷ 14 và 15; ba phát minh cơ bản được thêm vào mô hình tài chính của nền kinh tế Italia: tiền tệ được tiêu chuẩn hóa, sự hình thành của hệ thống dự trữ theo tỷ lệ (fractional reserve banking), và độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng của ngân hàng trung ương; sự hình thành, phát triển, và suy tàn của hệ thống bản vị vàng để nhường chỗ cho một hệ thống lưu hành giấy bạc ngân hàng dựa trên các khoản tiền gửi ngân hàng và tỷ giá hối đoái thả nổi.

Chương 2 bàn về thị trường trái phiếu, các rentier, và lạm phát. Thị trường trái phiếu được cho là cuộc cách mạng vĩ đại thứ hai trong sự lên ngôi của đồng tiền. Thị trường trái phiếu cho phép chính phủ và các tập đoàn lớn thực hiện việc vay mượn từ một nhóm đối tượng rộng rãi và đa dạng hơn ngân hàng. Thời kỳ Phục hưng của Italia và toàn bộ khối châu Âu, chiến tranh được xem là thủy tổ của thị trường trái phiếu. Sự thành công mang tính lịch sử của gia đình Nathan Mayer Rothschild chính là dựa trên sự khôn khéo và nhạy bén trong kinh doanh và việc có một nguồn vốn cùng mạng lưới thông tin tốt hơn nhiều so với những đối thủ khác.

Chương 3 đề cập đến các hiện tượng bong bóng trên thị trường tài chính. Tác giả cung cấp một phần phân tích tổng quát cho lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn từ năm 1979 đến 2008. Giai đoạn này được lựa chọn để nắm bắt được một cách bao quát nhất một chu kỳ từ suy thoái đến sự hình thành bong bóng và điểm vỡ của bong bóng trong thị trường chứng khoán Mỹ. Sử dụng sự nhảy vọt về hoạt động của thị trường chứng khoán trong giai đoạn này, tác giả thể hiện được cổ phiếu, với chức năng là một kênh đầu tư vào các công ty lợi nhuận cao, có tỷ suất lợi nhuận vượt xa trái phiếu.

Chương 4 được dành để bàn về rủi ro, bắt đầu bằng khái niệm cơ bản về bảo hiểm với vai trò là một công cụ phòng chống rủi ro trong tương lai. Tác giả chuyển tiếp đến lịch sử của ngành bảo hiểm hiện đại và nguồn gốc của nó từ Scotland. Sự phát triển của ngành này được gắn liền với Robert Wallace, Alexander Webster, và các nghiên cứu về các ý tưởng liên quan đến xác suất, tuổi thọ trung bình, luật số lớn (law of large numbers), phân phối chuẩn, độ thỏa dụng, và phép suy luận Bayes.

Chương 5 nói về cuộc chơi bất động sản và các ảnh hưởng của nó đến thị trường tài chính, bắt đầu với lịch sử của trò chơi Cờ tỷ phú và sự say mê của các nước phương Tây đối với bất động sản. Tác giả phân tích sự suy tàn của tầng lớp quý tộc sở hữu bất động sản và sự ra đời của Chính sách Mới (New Deal) cũng như khái niệm bảo lãnh thị trường vay thế chấp mua nhà.

Chương cuối cùng (Chương 6) mô tả quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới về thương mại và đầu tư, sự xuất hiện của các nền kinh tế mới nổi, hay theo cách nói của tác giả là mới nổi trở lại (vì thực tế là một số nền kinh tế này trước đây đã có thời kỳ đặc biệt hùng mạnh). Quá trình toàn cầu hóa được mô tả với một lịch sử đầy bạo lực, với các cuộc chiến tranh và sự áp đặt của người Âu lên các phần còn lại của thế giới, các vụ phá sản ở quy mô quốc gia, và các tác động dây chuyền đưa khủng hoảng cục bộ thành khủng hoảng toàn cầu và sự xuất hiện của hai cuộc Thế chiến.

Phần kết của cuốn sách là một phần viết đầy lắng đọng. Tác giả tóm lược lại bằng ngôn ngữ cô đọng nhất lịch sử phát triển của tiền tệ và hệ thống tài chính quốc tế, sự không bằng phẳng trong lịch sử của nó với quá nhiều giai đoạn bùng-vỡ cũng như nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này. Đây là phần viết đặc biệt thú vị với những người muốn có một hình dung tổng quát nhanh chóng về nội dung cuốn sách. Nó cũng đi sâu hơn vào một số vấn đề mang tính học thuật và cung cấp cho độc giả một tóm lược về các nghiên cứu kinh tế học và tài chính hiện đại.

Tiền tệ là một sản phẩm do con người tạo ra, và chỉ để nhằm phục vụ con người. Lịch sử của nó, cũng giống như lịch sử của con người, là một lịch sử mang tính tiến hóa. Lịch sử này là một lịch sử phát triển, nhưng hoàn toàn không bằng phẳng hay chỉ toàn màu hồng. Nó là một lịch sử đầy những biến động và thậm chí thấm đầy máu. Những sai lầm, đổ vỡ, các cuộc khủng hoảng trong hệ thống tiền tệ, tài chính (và vì thế kinh tế) rõ ràng thể hiện rõ nét bản chất con người trong đó. Với 400 trang sách, Niall Ferguson đã có một công trình đặc biệt thú vị, giới thiệu được một bức tranh toàn cảnh của lịch sử này, qua ngôn ngữ kể chuyện thú vị và các phân tích sâu sắc. Cuốn sách này xứng đáng được đọc và chia sẻ bởi tất cả các bạn đọc Việt Nam quan tâm đến “tiền” – không chỉ ở khía cạnh tiêu dùng nó như thế nào, mà đến cả câu chuyện sâu xa và lịch sử đầy biến động của nó cũng như tầm ảnh hưởng khủng khiếp của nó đến đời sống kinh tế hiện đại.

Tiến sĩ Trần Vinh Dự

REVIEW CỦA WINNY: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai – TRACY CHEVALIER

   Mình đến với quyển sách này phải nói là hoàn toàn tình cờ. Lần đầu tiên nhìn thấy cũng là lúc quyết định mua. Khi đó mình đang trong cửa hàng sách Nhã Nam tại đường sách Nguyễn Văn Bình. Thứ hấp dẫn đầu tiên là cái tựa “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai”, bởi những thứ liên quan đến thiếu nữ mình cho là đại diện cho sự trong sáng, trinh nguyên và thuần khiết. Mình đọc những dòng giới thiệu ở bìa bốn hai lần và đã quyết định mua nó ngay. Thú thực là mình không có thói quen đọc thử phía trong, chỉ bìa bốn và cùng lắm là thêm những thông tin của tác giả ở bìa gấp. Mình hoàn toàn chưa biết gì về quyển sách này trước đó, giờ quyết định mua chỉ là thử một lần đặt cược. Trong số những quyển sách mới mua về, mình đã chọn đọc nó trước tiên. Chỉ là một quyển sách tương đối nên chỉ trong một ngày rưỡi thì mình đã đọc xong.

(C) Winny Win Winny

   Nội dung đã được giới thiệu ở bìa bốn quyển sách. Câu chuyện được lấy cảm hứng từ bức danh họa “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai” của họa sĩ Johannes Vermeer, một danh họa người Hà Lan sống ở thế kỷ 17. Vì hoàn cảnh gia đình, Griet đến nhà vị họa sĩ làm hầu gái lo việc giặt giũ, nấu ăn, trông nom những đứa con, dọn dẹp phòng vẽ. Ban đầu chỉ là như thế nhưng dần dần Griet được Vermeer giao cho việc nghiền màu, pha màu, đi mua màu vẽ… dần dần trở thành một phần công việc của Vermeer cũng như trở thành nhân vật chính trong bức tranh để đời. Rồi giữa họ nảy sinh những rung cảm thầm kín nhẹ nhàng, gây ra những ghen tức, lừa dối trong gia đình vốn nề nếp và bình yên.

   Truyện được kể ở ngôi thứ nhất qua góc nhìn của Griet. Cô gái nhỏ mười sáu tuổi nhưng già dặn, thông minh và tinh tế hơn so với tuổi hay thân phận. Những câu văn đơn giản hết mức, rất ít nghệ thuật trong đó nhưng vẫn toát lên sự tỉ mỉ và gợi cảm. Tỉ mỉ và chi tiết ngay cả việc lau dọn phòng vẽ. “Từ chỗ bức thư, tôi dùng tay để đo khoảng cách tới chiếc chổi lông, sau đó đặt các ngón tay của mình vào những điểm khác nhau ở một bên chiếc chổi lông. Tôi nhấc nó lên, lau bụi, đặt nó lại vào chỗ cũ, rồi đo khoảng cách từ đó đến bức thư”. Griet có con mắt nghệ thuật tinh tế kỳ lạ, chính điều đó đã đưa cô đến gần hơn thế giới của Vermeer. Cách cô miêu tả từng chi tiết của ánh sáng, màu sắc, từng dáng vẻ cử động của người mẫu trong bức tranh, dường như có thể thấy bức tranh sống động hiện ra ngay trước mắt. “Con gái người thợ nướng bánh đứng trong một góc sáng sủa bên cạnh cửa sổ. Cô ta đối mặt với chúng ta nhưng lại nhìn ra bên ngoài cửa sổ, nhìn xuống bên phải. Cô ta mặc một cái áo chẽn bằng lụa và nhung, màu vàng pha đen, váy màu xanh đạm, và một chiếc mũ trắng rủ hai vạt xuống dưới cằm cô ta”, “khi cha nhìn chiếc mũ đủ lâu, cha sẽ thấy ông ấy vẽ nó không hoản toàn màu trắng, mà hơi có màu xanh, tím rồi lại vàng”.

   Cũng chính những câu văn giản dị trong sáng ấy đã đưa Griet đến với sự rung cảm đầu đời dành cho ông chủ của mình. Đó là một cảm xúc không lời, thầm lặng, đến với Griet một cách kín đáo và êm ái. Đến khi hay biết, cô đã đắm chìm trong nó. Bước lên lầu nơi có căn phòng vẽ với tranh, màu sắc, ánh sáng, đó là một thế giới khác xa sự nghèo đói của gia đình, sự vất vả của công việc hầu gái, mùi máu tanh của anh hàng thịt, đó là một thế giới đầy mộng mơ và đẹp đẽ, cô đã dành tình yêu cho thế giới đó cũng như cho chủ nhân của căn phòng đó. Griet chợt xuyến xao trước những đụng chạm vô tình, chợt đỏ mặt trước cái nhìn chăm chú… quá đỗi nên thơ và dịu dàng, hoàn toàn không vướng chút xác thịt trần tục, để lại những khắc nghiệt của cuộc sống mưu sinh phía sau. Lần đầu tiên trong đời Griet biết có những thứ đẹp đẽ như thế, lần đầu tiên trong đời sự nhạy cảm nghệ thuật của Griet có người nhìn nhận và thấu hiểu. Điều này là rất quan trọng, bởi đâu phải ai cũng được người khác nhìn ra và công nhận những khao khát về cái đẹp tột cùng trong con người mình. Vermeer chưa từng vẽ vợ của mình bởi vì cô không hiểu, nhưng ông đã dành trọn tâm huyết cả đời mình vào bức tranh vẽ Griet. Giữa Vermeer và Griet, chợt nhận ra là họ thấu hiểu và đồng điệu nghệ thuật đến kỳ lạ.

   Rất khó để nói họa sĩ Vermeer có dành lại chút rung cảm tình yêu tương tự như của Griet không. Trong mắt Griet thì ông luôn hiện ra với hình ảnh của một họa sĩ gắn liền với những bức tranh, để việc nuôi dạy con cho vợ và việc bán tranh cho người mẹ. Ông hoàn toàn đắm chìm vào thế giới của riêng mình, dường như là đang trốn chạy thực tại khó khăn với những khoản nợ, giấu mình vào những bức tranh. Người họa sĩ cả đời chỉ có những bức tranh, tạo cho mình một thế giới riêng với những bức tranh được vẽ trong hàng tháng trời bất kể việc bán tranh là kế sinh nhai duy nhất của cả gia đình tám người và hai người hầu. Đó là bi kịch của một thiên tài. Người bảo trợ duy nhất của Vermeer là Ruijven, nhưng vì thế mà ông ta muốn gì được nấy kể cả những hành động khiếm nhã với Griet và muốn có được một bức tranh với cô. Tuy sau đó Vermeer đã thỏa thuận chỉ vẽ bức tranh một mình cô nhưng vẫn là buộc Griet làm điều cô không thích, kể cả buộc cô phải đeo đôi hoa tai ngọc trai khi cô vốn không hề có lỗ xỏ hoa tai. Griet đã phải chịu đau đớn và tai sưng tấy để thỏa mong muốn của Vermeer. Là nỗi đau của tình yêu, cũng là nỗi đau vì nghệ thuật. Nhưng đến cuối cùng, người đàn ông mà cô đã dành trọn tình yêu thuần khiết đầu đời ấy lại không thể bảo vệ cô khi vợ Vermeer buộc tội cô lấy cắp đôi hoa tai. Cô đã lựa chọn rời xa khỏi cái thế giới là một mớ bòng bong của tình cảm, giả dối, thủ đoạn và ghen ghét đó. Vốn dĩ cái thế giới ảo mộng ấy không dành cho cô, cô đã lựa chọn cuộc sống thực tế và khôn ngoan hơn với Pieter anh hàng thịt. Kể cả khi được Vermeer để lại đôi hoa tai khi ông mất, Griet vẫn quyết định bán nó đi. 

   Vẻ đẹp của câu chuyện không đến từ những kịch tích dồn dập mà thật chậm rãi và trong veo. Nó đến từ sự đơn giản và tinh tế trong từng câu chữ và chi tiết. Griet với sự thông minh và tỉ mỉ dần dần chinh phục trái tim người đọc cũng như một phần nào đó trái tim Vermeer. Có thể Vermeer không yêu Griet mà chỉ nhìn nhận cô với con mắt cảm thụ vẻ đẹp của một họa sĩ nhưng giữa họ đã nảy sinh những xúc cảm đồng điệu về tâm hồn và nghệ thuật. Vermeer có thể yếu đuối, ích kỷ trong thế giới riêng của mình và thiếu bản lĩnh nhưng ít ra cũng đã dành cho Griet sự trân trọng những thứ mà cô chưa từng được trân trọng. Cho dù đó là lần duy nhất trong đời, nhưng những dư vị ngọt ngào của nó là đã đủ cho cả một đời người tạo nên kiệt tác.

   Yêu thích: 4.5 / 5.

Cám ơn bạn Winny đã đồng ý cho Nhã Nam đăng lại bài viết này.

Tên tác phẩm: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai.

Tên gốc: Girl with a pearl earring.

Tác giả: Tracy Chevalier.

Quốc gia: Anh.

 

Những nụ hôn điện ảnh: Trôi dạt trong ký ức

Cuốn sách chứa đựng hai câu chuyện tình xen lẫn trong nhau, một chuyện tình của Gilles Hector với điện ảnh, và một mối tình si của anh với người phụ nữ đã có gia đình, Mayliss.

Hai câu chuyện tình đều được kể với giọng điệu tự sự mùi mẫn, ủy mị, giống như phong cách của những bộ phim tình cảm Mỹ vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ. Nó gợi nhắc về những hoài niệm lãng mạn một thuở.

Hai câu chuyện cũng được kể trong bầu không khí đan xen của ánh sáng và bóng tối, giữa trắng và đen, hai màu của điện ảnh thời kỳ đầu cho đến khi phim màu xuất hiện, cùng với tất cả những cái tên đã đi vào tiềm thức của bất kì ai yêu mến điện ảnh nói chung, và “làn sóng mới” của Pháp nói riêng.

Một chuyến viễn du vào miền quá khứ, nơi một luật sư cứ mải miết đi xem những bộ phim cũ kỹ của Truffaut, Claude Trabrol, Eric Rohmer… để tìm kiếm một gương mặt có thể là mẹ mình, và cũng trong miền viễn du đó, ông cũng yêu bóng tối, Mayliss, một người đàn bà đã có gia đình, vụng trộm, thèm khát, đam mê dục vọng nhưng dằn vặt, lo sợ, bối rối và đầy ghen tuông.

Người đàn ông trung niên cứ mải miết đuổi theo hình bóng về người mẹ mà mình chưa bao giờ nhìn thấy mặt thông qua những gương mặt phụ nữ hiễn hữu khác, để rồi lùi về quá khứ càng sâu, những hình ảnh ấy càng trở nên mơ hồ, lâng lâng giữa những cung bậc hư hư thực thực. Nhưng những hình ảnh ấy, cùng với sự mơ hồ ấy đã đeo đuổi ông suốt khoảng thời sống, khiến tâm trí ông chất chồng trong những cảm xúc của mất mát, cô độc và bị thít chặt bởi sợi dây quá khứ, tưởng như có lúc ông đắm hẳn vào trong đó, không còn lối thoát.

Nhưng rồi, cùng với vụ cháy xưởng phim cũ của người cha, dường như là một hành động cởi nút cuối cùng, đẩy ông về thực tại, nhận biết mình ở thực tại, và bắt đầu nhìn thấy ánh sáng thực tại nơi cuộc sống. Đó là khi cuộc truy vấn dừng lại.

Cái ánh sáng nhòe nhòe và lấp lánh của ký ức phủ kín cuốn sách, khiến người đọc nhiều khi cảm thấy ngột thở bởi một hành trình riêng tư đến thế của con người. Nhưng cũng chính ký ức đã tạo nên thức màu sắc mùi vị quyến rũ đối với bất kì ai trong chúng ta. Ai cũng có câu chuyện của riêng mình, câu chuyện về một hành trình đi vào tâm trí.

Những nụ hôm điện ảnh là cuốn sách ắp đầy hoài niệm, hoài niệm về một dĩ vãng đã qua, về mối tình đã mất, và về một hình dung dường như chưa bao giờ tồn tại, một thứ phức cảm đầy phức tạp, khiến nhân vật tôi cứ phải đeo đuổi như đeo đuổi một bóng ma, để rồi gặp một bóng ma khác, là người tình bí mật của mình.

Nửa đầu sách có đôi chút nhàm chán, nhưng nửa sau là những dòng kí ức rực rỡ, cuốn ta vào một thế giới mà ở đó, nó giống những thước phim đen trắng của Truffaut, nơi nhân vật không nói gì, chỉ đứng lặng đó, để khán giả đi thẳng vào trong dòng chảy suy nghĩ của nhân vật. Với lối kể dòng ý thức miên man giữa hiện tại và quá khứ, tác giả đã xóa nhòa ranh giới của lối kể chuyện thông thường. Đi theo hành trình của  Gilles Hector, có lúc giật mình ta không rõ mình đang đi về phía trước hay càng lúc càng chìm đắm trong những câu chuyện ký ức của chính ta.

Đây thực là cuốn sách sặc mùi ái tình, và nó khiến trái tim ta dễ sa ngã vào lòng mê đắm. Chất ái tình được thể hiện rõ trong tác phẩm khi xây dựng những khung cảnh đầy sắc nét, đặc biệt Eric Fottorino đã tạo nên được những góc sáng mơ hồ hư ảnh, rất dễ khiến độc giả mê mụ.

Trong tác phẩm, Eric Fottorino viết: “Tôi không hay biết gì về nguồn gốc của mình. Tôi sinh ra tại Paris từ một người mẹ không biết mặt còn bố tôi chuyên chụp ảnh các nữ diễn viên. Ít lâu trước khi qua đời, ông mời thổ lộ với tôi rằng, tôi có mặt trên đời này là nhờ một nụ hôn điện ảnh”. Những nụ hôn điện ảnh là duyên cớ để bắt đầu câu chuyện về những tâm hồn cô độc trong thành phố.

Chuyện một người lạc lõng giữa thành phố, và mất dấu vết về quá khứ dễ khiến độc giả cảm thấy gần gũi với những câu chuyện về Paris của tác giả Patrick Modiano, người si mê truy tìm ký ức. Hình ảnh người đàn ông đi loạng choạng trong ánh chiều vàng của thành phố, thật khiến ta nhớ đến hình ảnh Lost in Translation của đạo diễn Sofia Coppola. Những không gian của ký ức, không gian của kiếm tìm và truy vấn về nguồn gốc của bản thân. Phải chăng, mỗi cá nhân chúng ta, sinh ra đều mang trong mình những tâm tư trăn trở ấy.

Một cuốn sách đã tìm cách bóc tách thân phận cô đơn của cá nhân trong lòng thành phố một cách rất êm dịu và rất tình. Đó là cái nhấn nhá của một kẻ đã rất thanh thản với đời, trông vào nỗi đau của nhẹ bẫng của Eric Fottorino. Và cuốn sách, cũng sẽ cung cấp cho người đọc những cái tên phim điện ảnh thực sự “chất”, dù chỉ là những cái tên thôi. Nhưng đôi khi, ta cũng chỉ cần những cái tên như thế để bắt đầu một câu chuyện thú vị, như cái tên mà Patrick Modiano đã nhắc đến trong tiểu thuyết Để em khỏi lạc trong khu phố là một ví dụ xác đáng.

Những nụ hôn điện ảnh là cuốn sách thứ 8 của Eric Fottorino, xuất bản năm 2007, đã đạt giải thưởng văn học Femina.

Nửa kia của Hitler (Review của Winny Win Winny)

   Eric-Emmanuel Schmitt sinh năm 1960 tại Lyon, là một trong những tác giả tiêu biểu của nền văn học Pháp và là một trong những tác giả Pháp đương đại được đọc và dịch nhiều nhất ở nước ngoài. Ngoài sáng tác tiểu thuyết, ông còn là tác giả kịch và giảng viên triết học. Eric-Emmanuel đã viết các tác phẩm của mình để cả những người trí thức và người bình dân đều tìm được điều gì đó thú vị. Tôn giáo cũng là chủ đề ưa thích của ông bên cạnh lịch sử, triết học, phân tâm học.

   Điều gì sẽ xảy ra nếu như ngày 8.10.1908 đó, ban giám khảo Học viện Mỹ thuật thành Viên nhận Adolf Hitler trở thành sinh viên? Có lẽ thay vì trở thành một gã độc tài đồng trinh gây nên cuộc thảm sát hàng triệu người Do Thái, Hitler đã trở thành một họa sĩ trường phái siêu thực danh tiếng và hạnh phúc. Tác giả đã chọn cái ngày định mệnh ấy để phân ra hai nửa con người song song của Hitler – một Hitler lịch sử và một Adolf H. hư cấu, dựa trên “hiệu ứng cánh bướm”: liệu một con bướm vỗ cánh ở Brazil có gây nên một cơn lốc xoáy ở Texas, nếu giá trị của một tham số đầu vào thay đổi, dù là cực nhỏ, liệu nó có gây ra những kết quả hoàn toàn trái ngược không? Cái ngày 8 tháng 10 đó, đã hoàn toàn thay đổi dòng chảy của lịch sử thế giới. 

   Vào ngày đó, Adolf H. được nhận vào trường Mỹ thuật và bắt đầu thực hiện giấc mơ họa sĩ của mình, kết bạn với những họa sĩ tài năng khác, có hàng loạt tình nhân, tham gia Thế chiến thứ nhất với nỗi ghê sợ chiến tranh. Sau chiến tranh, Adolf H. trở thành một họa sĩ siêu thực nổi tiếng và giàu có, có vợ con, tham gia giảng dạy ở đại học, rồi chết trong vòng tay gia đình. Trong khi đó, Hitler sau khi bị đánh trượt trờ thành một kẻ lang thang vô gia cư nghèo khổ, không có bạn bè ngoại trừ một tên lừa đảo, nói dối mình là một họa sĩ, say mê những vở opera của Wagner, bắt đầu tiếp xúc với chủ nghĩa bài Do Thái và khái niệm chủng tộc người Đức thượng đẳng. Trong Thế chiến thứ nhất, Hitler liên tục thoát chết và cho rằng mình được thế lực siêu nhiên bảo vệ, lao vào chiến đấu hăng say đến mức cuồng dại. Sau đó, Hitler trở thành cán bộ tuyên truyền rồi từng bước trở thành Quốc trưởng. Tham gia Thế chiến thứ hai, Hitler ra sức tận diệt người Do Thái, thất bại trong vòng xoáy bạo lực do chính mình tạo ra dẫn đến việc cuối cùng phải tự sát trong boong ke.

Ảnh (c) Winny Win Winny

   Đứng trước hoàn cảnh và số mệnh, con người không thể chối bỏ nó, điều làm nên sự khác biệt là những lựa chọn. Adolf H. chọn lựa một cuộc sống bình thường của con người với tình bạn, tình yêu, tình dục, tình cảm gia đình, tình thầy trò, cảm thấy bản thân là một người tầm thường chỉ là một trong số hàng triệu triệu người trên Trái Đất. Ngược lại, Hitler hoàn toàn cô lập bản thân, luôn đổ lỗi cho người đời đã không công nhận tài năng của hắn, chối bỏ những nhu cầu cơ bản nhất của con người là tình yêu và tình dục, đặt mình vượt lên trên tất cả những con người tầm thường, tự xem mình là một vị thánh cứu rỗi nhân loại, mong muốn đem đến một thế giới thượng đẳng và thuần khiết. Hitler tự cho mình là một thiên tài xuất chúng, càng không được công nhận thì càng cố chứng tỏ bản thân vượt trội, sống chết với lý tưởng tự cho là đúng đắn của mình, lệch lạc với ý nghĩ mình là trung tâm thế giới. Hitler cuồng tín vì chiến tranh, phát hiện ra rằng chiến tranh là bản chất của sự tồn tại trên đời. 

   Tác giả đơn thuần là người kể chuyện, không đưa ra bất kỳ đánh giá hay phán xét nào, cũng không phải để thể hiện quan điểm chính trị. Các sự kiện lịch sử, cuộc thảm sát hàng triệu người Do Thái và đẩy hàng triệu người lính ra chiến trường, tất cả đều chỉ đề cập thoáng qua. Đây không phải là một quyển sách để vạch trần tội ác của Hitler mà là một quyển sách nói đến bản chất con người. “Hitler không nằm ngoài mỗi con người, hắn nằm trong chúng ta. Hắn là một trong những con người mà chúng ta có thể trở thành. Hắn sẽ là chúng ta khi chúng ta để mình bị cuốn theo những suy luận dễ dãi, tối giản hóa sự việc, tìm cách đổ lỗi cho người khác. Hắn sẽ là chúng ta khi chúng ta muốn lúc nào mình cũng có lý, sẽ là chúng ta nếu như chúng ta không bao giờ cảm thấy có lỗi… Kẻ thù lớn nhất của con người là chính mình… Con quái vật này nằm trong tôi cũng như nó nằm trong mỗi người, trong toàn nhân loại. Giam chặt nó suốt đời ta hoặc thả nó ra, chỉ có ta tự chịu trách nhiệm về điều đó.” Trong mỗi người đều có thiên thần và ác quỷ, chính sự lựa chọn làm chúng ta khác đi.

Yêu thích: 3,5 / 5.

Tên sách: Nửa kia của Hitler.

Tên gốc: La part de L’Autre.

Tác giả: Eric-Emmanuel Schmitt.

Quốc gia: Pháp.

Cám ơn bạn Winny Win Winny đã đồng ý để Nhã Nam đăng lại bài viết này.

Những cuốn sách về trẻ em thời chiến

Đây đều là những cuốn sách viết về trẻ em thời chiến, bằng góc nhìn ngây thơ và non nớt của những đứa trẻ chưa bị những định kiến bủa vây. Chúng ca ngợi tình bạn, lòng yêu thương con người, đồng thời nói lên rằng sự lạc quan và mạnh mẽ phải luôn luôn được giữ vững trong những thời khắc khó khăn nhất của cuộc sống.

1. Chú bé mang pyjama sọc – John Boyne


Đây là cuốn sách viết về một cậu bé 9 tuổi, nhưng nó phù hợp với tất cả mọi lứa tuổi. Điểm ấn tượng của cuốn sách chính là tác giả đã dùng góc nhìn của một đứa bé để tái hiện một phần thực trạng xã hội đen tối lúc bấy giờ. Trẻ con thì lúc nào cũng thơ ngây, lúc nào cũng muốn khám phá thế giới, chưa phải chịu những định kiến nên tất nhiên sẽ có cái nhìn khách quan nhất. Bruno là một cậu bé người Đức, cuối thế chiến thứ II, vì công việc của cha mà cậu phải chuyển đến một chỗ ở mới. Tại đây, Bruno mãi mà không có bạn dù cậu vẫn luôn cố gắng để thôi nhớ về căn nhà cũ và những người bạn cũ. Cho đến khi cậu gặp Shmuel, người đã khiến cuộc đời Bruno bước sang một trang mới. Chính tình bạn của Bruno và Shmuel là điểm sáng chói lọi giúp chiến tranh bớt đi một phần khốc liệt. Là một câu chuyện viết về thời kỳ chiến tranh, nhưng John Boyne không hề miêu tả bom đạn, khói súng, không có những trận đánh nhau, không có máu me tràn ngập trang sách. Nhưng nó hoàn toàn nói lên được sự khốc liệt và đau thương của chiến tranh.

2. Con của Noé – Eric-Emmanuel Schmitt

Tương tự với John Boyne trong Chú bé mang pyjama sọc, Eric-Emmanuel Schmitt cũng dùng con mắt của trẻ thơ để kể câu chuyện về người Do Thái một cách dễ chịu hơn rất nhiều. Nhân vật chính là cậu bé Joseph 7 tuổi. Vì người Do Thái bị Đức quốc xã tàn sát nặng nề, Joseph buộc phải rời xa gia đình để được giữ an toàn. Cậu bé sống với cha Pons tại Villa Jaune. Qua những lời dạy của cha Pons, dù bắt buộc phải nói dối mình là người Công giáo, Joseph vẫn hiểu ra rằng bản thân là người Do Thái đã là một điều đáng tự hào. Cha Pons và Joseph – một già một trẻ, hai con người ở hai dân tộc, hai tôn giáo khác nhau đã được gắn kết lại bằng sức mạnh vĩnh cửu của tình yêu thương.

3. Khu vườn bí mật – Frances Hodgson Burnett

Cuốn sách là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Frances Hodgson Burnett, ra đời cách đây hơn một thế kỷ. Khu vườn bí mật là câu chuyện về Mary, một cô tiểu thư mồ côi với vẻ ngoài xấu xí và tâm tính cáu kỉnh khó ai ưa nổi. Sau một trận dịch bệnh, Mary được gửi tới Anh quốc sống cùng một ông bác ở vùng đồng hoang Yorkshire. Ở đây, Mary đã khám phá ra được khu vườn bí mật nhờ sự giúp đỡ của một con chim ức đỏ. Mary đã gặp gỡ cậu chủ Colin và Dickon, xây dựng nên một tình bạn tuyệt đẹp. Điểm đặc biệt của cuốn sách chính là những đoạn miêu tả vẻ đẹp tuyệt vời của khu vườn. Theo đó, Khu vườn bí mật còn có những bài học về cách nuôi dạy một đứa trẻ trưởng thành như thế nào, như Mary từ một cô tiểu thư gầy guộc, đỏng đảnh trở thành một cô bé khỏe mạnh và luôn hạnh phúc với mọi thứ. Đây là một tác phẩm kinh điển vượt thời gian và không gian để trở thành cuốn sách gối đầu giường của mọi người.

4. Công chúa nhỏ – Frances Hodgson Burnett

Cũng tương tự như tác phẩm Khu vườn bí mật, Công chúa nhỏ kể về sự thay đổi của một cô bé từ chỗ được yêu chiều hết mực ở trường nội trú bỗng trở thành một đứa trẻ mồ côi bị đối xử tồi tệ phải sống trên gác mái. Cô bé Sara 7 tuổi là con gái của đại uý Crewe – một người đàn ông giàu có, goá vợ và dành hết tình cảm yêu thương của mình cho cô con gái nhỏ. Sau khi cha bị phá sản và qua đời, Sara bị ngược đãi, bị biến thành lao dịch, ăn chẳng đủ no. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh khó khăn ấy, Sara vẫn giữ được bản chất “công chúa” vốn có của mình. Bởi vì Sara là một cô bé có trái tim nhân hậu, khiêm tốn, thông minh, tử tế. Cô bé chịu đựng sự ghẻ lạnh nhưng không một lời trách móc, than vãn, cô vẫn giữ vững niềm tin rằng mọi chuyện đều sẽ ổn và những điều đẹp đẽ nhất định sẽ đến.

5. Nhật ký – Anne Frank

Anne sinh ra tại nước Đức trong một gia đình Do Thái. Khi làn sóng tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết, gia đình nhà Frank đã phải chuyển đến một “chái nhà bí mật” tại Hà Lan. Tại đây, vào hai năm cuối đời, Anne đã viết cuốn nhật ký của cuộc đời mình bằng cả trái tim và trí óc. Những lời trong nhật ký đều là những hoạt động hàng ngày, về những rung động tuổi mới lớn, về cha mẹ, về những dự định học hành, về tình hình thế chiến… Điều đáng quý nhất ở Anne chính là tin thần lạc quan, cho dù tình hình chiến sự có khốc liệt đến mức nào thì Anne  vẫn tin tưởng vào một ngày được tự do cùng mọi người. Lòng yêu cuộc sống đã khiến Anne trở thành một người xinh đẹp nhất trong những ngày tiêu cực của cuộc đời.

Nguồn: Nhã Nam Thư Quán

Kẻ móc túi (Review của Winny Win Winny)

Nakamura Fuminori sinh năm 1977 tại Nhật. Năm 2002, ông bước chân vào văn đàn Nhật Bản sau khi nhận giải thưởng Shincho với tác phẩm “Khẩu súng”. Các tác phẩm tiếp theo của ông luôn được độc giả đón nhận và nhận nhiều giải thưởng danh giá, trong đó “Kẻ móc túi” (Thief) nhận giải Oe Kenzaburo, được dịch sang mười hai thứ tiếng, nằm trong danh sách “12 tiểu thuyết hay nhất năm 2012” do tờ Wall Street Journal bình chọn. 

Kẻ móc túi – Ảnh của Winny Win Winny

   Gã là một kẻ móc túi có tài năng thiên bẩm, sống lang bạt không bạn bè và người thân ở một đô thị phồn hoa Tokyo. Gã có thể sử dụng thuận cả hai tay, lúc nào cũng chình chu trong bộ trang phục sang trọng để dễ lẫn vào đám đông mà không bị nghi ngờ và mang giày thể thao để đề phòng phải chạy trốn. Gã móc túi kẻ giàu có, chỉ lấy tiền và để lại ví vào hòm thư. “Xây lưng che ánh mắt những người đứng bên phải, tôi gập tờ báo lại, chuyển sang tay bên trái rồi từ từ hạ tờ báo xuống làm vật chắn, sau đó thọc ngón trỏ và ngón giữa tay phải vào túi ông ta. Ánh sáng đèn huỳnh quang phản chiếu trên cúc ống tay áo khoác khẽ lướt qua khóe mắt. Tôi nhẹ nhàng hít vào và cứ vậy nín thở. Ngón tay đã kẹp được vào ví, tôi nhẹ nhàng rút ra. Một luồng điện chạy dọc từ ngón tay lên đến vai, tôi cảm giác như cơ thể dần nóng lên. Tôi cố tự nhủ rằng vô số ánh mắt giao nhau của những người xung quanh đều không hướng vào chỗ duy nhất này. Vừa cố kìm nén sự run rẩy trên những ngón tay đang cầm ví, tôi vừa kẹp chiếc ví vào giữa tờ báo đã được gấp lại, chuyển sang tay phải rồi cho vào túi trong áo khoác mình.”

   Cứ cho là gã xấu xa, nhưng gã cũng là người đã can thiệp khi thấy cô bé nữ sinh bị sàm sỡ trên tàu điện ngầm, ra tay giúp đỡ mẹ con đứa trẻ gầy gò trộm đồ trong siêu thị trước khi bị bắt quả tang. Gã hẳn cũng chỉ xem hai mẹ con ấy là người lạ qua đường cho đến khi đứa trẻ xuất hiện trước nhà gã. Gã đã cho tiền nó, dạy cho nó vài ngón nghề móc túi, chơi cùng nó, ở bên nó. Một lớn một bé lạc lõng và cô độc đã nương tựa vào nhau như thế. Có thể vì gã nhìn thấy trong đứa trẻ hình ảnh mà gã đã từng, hoặc là hy vọng đứa trẻ sau này sẽ đừng theo cong đường móc túi chuyên nghiệp nhưng mông lung như mình.

Tài năng của gã được một ông trùm trong thế giới ngầm để mắt đến. Sau phi vụ trộm nhà một chính trị gia, gã tiếp tục bị lựa chọn thực hiện liên tiếp ba vụ móc túi. Gã không có sự lựa chọn nào khác, bởi an nguy của mẹ con nhà kia giờ đây lại nằm trong quyết định này của gã. Và gã cũng không được phép thất bại, bởi khi đó, gã sẽ phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

   Gã đã có thể từ chối nhiệm vụ, dù sao hai mẹ con kia cũng không can hệ gì đến một kẻ lang bạt vô định như gã. Nhưng gã đã vì họ, làm những điều xấu xa và nguy hiểm để hy vọng vào một điều tốt đẹp hơn, để đứa trẻ được ăn mặc đàng hoàng tử tế một chút, để nó thoát khỏi đòn roi bạo lực của người tình của mẹ nó. Đứa trẻ như một tia nắng ấm áp khẽ lướt qua màn đêm u tối đã ngự trị quá lâu trong cuộc sống của gã. Vì điều đó, gã sẵn sàng mạo hiểm. Nhưng kết quả của trò chơi thì không phải do gã tự quyết định. Số phận của gã do người khác nắm giữ hay bị người khác nắm giữ là số phận của gã?

   “Kẻ móc túi” là một tiểu thuyết đen (noir) viết về thế giới ngầm và tội phạm, nên dù có là một tên móc túi thì gã vẫn hiện ra với hình ảnh đầy đủ của một con người: có lòng trắc ẩn, không đứng nhìn trước bất công, cũng có sự lạc lõng trong một thế giới rộng lớn, có niềm hy vọng vào một đứa trẻ xa lạ, và có những khát khao rất bình dị. Với họ, thế giới không chỉ đơn giản xoay quanh đúng sai thiện ác mà đó là thế giới định nghĩa sự công bằng theo cách riêng: “mày có công nhận rằng nếu không có khái niệm ‘sở hữu’ thì hiển nhiên sẽ không có khái niệm ‘trộm cắp’ không? Chừng nào trên thế giới vẫn còn dù chỉ một đứa trẻ đói ăn thì chừng đó mọi sự sở hữu đều là xấu.” Thế gian này chẳng phải có duy nhất một thế giới cho một hệ thống người mà nếu sai lệch khỏi nó thì sẽ là tội phạm, họ có một thế giới riêng của mình. Đúng sai thực chất chỉ là cách con người nhìn nhận và lấy ý kiến đa số để tạo ra pháp luật và quy tắc, nhưng vẫn còn những điều không thể phân định. Như gã, ngạc nhiên thay không phải móc túi vì tiền bạc, mà đơn giản vì gã có khả năng làm điều đó. Gã không phải là người hùng cũng không mong trở thành anh hùng. Gã chỉ mơ ước những điều giản dị: đến London so tài nghệ thuật móc túi, lấy tiền của bọn nhà giàu chia cho đám trẻ con đường phố. Dù có là một tên tội phạm, gã vẫn chỉ khát khao có thể được làm những điều mình thích thôi. Và ở phía xa, tòa tháp sắt khổng lồ sừng sững lặng im quan sát gã, không phán xét. Cái tên của gã chỉ được nhắc đến duy nhất một lần như thể gã không muốn để lại dấu ấn ở bất cứ đâu, gã sẽ đến và đi bất cứ lúc nào, gã đã ở đây nhưng thực chất là vô hình.

   Truyện có nhân vật chính thú vị có thể khai thác rất nhiều tầng sâu của suy nghĩ và cảm xúc, nhưng trong quyển sách 150 trang, điều đó không nhiều. Người yêu cũ của gã thoáng qua ở vài trang mà không rõ vai trò và mục đích là gì cũng như không có ảnh hưởng sâu sắc gì đến hiện tại. Tuyến nhân vật phụ thì bị cắt phũ phàng ở phần cuối, bởi vì nhân vật chính hết chuyện thì họ cũng hết chuyện theo. Truyện kết thúc nhanh và cụt, với nhiều câu hỏi đặt ra mà không có câu trả lời cũng không có phương hướng gợi mở suy nghĩ về câu trả lời. Hay vì vốn không có bất kỳ đáp án nào cho số phận sống chết không ai hay biết của gã?

♥ Đánh giá: 3/5.

♥ Yêu thích: 2.5/5.

Bài viết của bạn Winny Win Winny:
http://winnywinwinny.blogspot.com/2017/04/ke-moc-tui-nakamura-fuminori.html
Cám ơn bạn đã cho Nhã Nam đăng lại.

1 điểm2 điểm3 điểm4 điểm5 điểm6 điểm7 điểm8 điểm9 điểm10 điểm (1 chấm điểm, trung bình được: 5.00 , số người bình chọn 10)
Loading...

Kẻ móc túi

Nakamura Fuminori
Nguyễn Thị Ái Tiên dịch
Giá bìa: 65000đ

Câu chuyện về nơi tồi tàn nhất thế gian

“Cục phân chó” không phải chỉ riêng một ai mà là dạng tồn tại bị ruồng bỏ nhất trên thế gian này. Dạng tồn tại bị xa lánh, ai nấy nhìn thấy đều nói “Eo ôi, bẩn khiếp.” rồi tránh xa. Thế nhưng tác giả Kwon Jeong Saeng lại quan tâm đến “dạng tồn tại bị ruồng rẫy, lạc lõng nhất thế gian” ấy.

Cách đây không lâu, tôi từng nghe được câu chuyện của tác giả Kwon Jeong Saeng thế này. Vào một ngày nọ, tác giả bắt gặp cục phân chó nằm dưới mái hiên dầm mưa đến nát bấy, rữa ra và ngấm vào lòng đất. Thế nhưng bên cạnh cục phân chó đang tan vào đất ấy lại có một bông hoa bồ công anh đang nở rộ. Tác giả Kwon Jeong Saeng trông thấy cảnh đó đã thốt lên, “A, ra vậy!” và ứa nước mắt, sau đó thức trắng mấy đêm để viết nên câu chuyện cục phân chó.

“Thì ra ngay cả những tồn tại nhỏ nhoi như cục phân chó, những tồn tại chỉ nhận được sự khinh miệt từ người đời cũng vẫn hy sinh thân mình thế kia để làm bừng nở một sinh mệnh khác.” Tác giả Kwon Jeong Saeng đã cảm động sâu sắc trước hiện thực này, và với niềm cảm động đó ông đã vừa khóc vừa bắt tay vào viết câu chuyện về cục phân chó.

Đất nước Hàn Quốc có một lịch sử đặc trưng. Ấy là dòng lịch sử đau đớn liên tục bị người khác chà đạp. Trải qua thời kỳ xâm lược thuộc địa, trải qua giai đoạn chia cắt rồi lại hứng chịu cả chiến tranh, dân tộc Hàn Quốc may mắn không bỏ mạng mà vẫn sống sót.

Cũng bởi mang trên mình lịch sử đặc trưng như vậy, nên dân tộc Hàn Quốc cần đến một hình thức truyện cổ tích khác với phương Tây. Những câu chuyện chứa đựng ý thức sống bền bỉ của một dân tộc đã phải sống đời như “cục phân chó” chứ không phải hoàng tử hay công chúa. Trước khi tác phẩm Cục phân chó ra đời, trẻ em Hàn Quốc hầu như chỉ say sưa với những truyện cổ tích về công chúa hoàng tử. Thế nhưng, thế giới trong Cục phân chó đã cho các em thấy một thế giới đối lập, hoàn toàn trái ngược với thế giới mơ mộng nơi công chúa hoàng tử sống. Bấy lâu nay, những người làm văn học thiếu nhi vẫn chỉ dừng ở việc ươm trồng giấc mơ và mở ra trước mắt các em một thế giới tưởng tượng xa rời hiện thực, nhưng tác giả Kwon Jeong Saeng thì đã đi xuống tận nơi tồi tàn nhất thế gian này để chỉ cho các bạn nhỏ sự thực rằng, dù ở nơi tăm tối và lạnh lẽo cũng vẫn có vô số những linh hồn ấm áp không thua kém gì công chúa hay hoàng tử. Đây chính là lý do khiến Cục phân chó được coi là tác phẩm mang đến cách mạng cho văn học thiếu nhi Hàn Quốc. Càng đọc tác phẩm này ta lại càng cảm thấy thứ mùi vị thanh thuần nào đó của dân tộc. Mùi của canh tương đậu thơm ngon.

Một tác phẩm xứng đáng đại diện cho văn học thiếu nhi Hàn Quốc nay lại được gặp gỡ với tranh vẽ của họa sĩ Jeong Seung Gak, người đang duy trì nét đẹp của tranh cổ Hàn Quốc thông qua sách tranh hiện đại, nhờ đó Cục phân chó đã được tái sinh dưới hình hài sách tranh dành cho bạn đọc nhỏ tuổi, đem lại niềm vui khi đọc sách cùng niềm cảm động sâu sắc.

 

Lee Jae Bok (Nhà phê bình văn học thiếu nhi)

Cục phân chó
Kwon Jeong Saeng – Jeong Seung Gak
Nguyễn Tú Uyên dịch
Giá bìa: 49000đ