REVIEW: HOA CÚC XANH – KAREL CAPEK (Winny Nguyễn)

Bài gốc đã được đăng ở đây: HOA CÚC XANH – KAREL CAPEK

sinh năm 1980 tại Malé Svatonovice, một làng thuộc Đông Bắc Czech trong gia đình có cha là bác sĩ và mẹ là nhà sưu tầm văn học dân gian. Ông có nhiều năm du học tại Paris và Berlin. Năm 1915, ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Charles Praha với bằng Doctor Triết học. Ông làm biên tập viên cho nhiều tờ báo, sau đó làm tác giả kịch bản, đạo diễn nhà hát. Từ năm 1925 – 1933 là Chủ tịch Hội Văn bút Tiệp Khắc. Ông là bạn tâm giao của T. Masarych – Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Tiệp Khắc, các bài viết của ông trên báo mang sức nặng uy quyền của người phát ngôn chính thống từ Dinh Tổng thống. trở thành biểu tượng văn hóa của Nền Cộng hòa Tiệp Khắc thứ nhất vì di sản văn hóa đồ sộ và những nỗ lực hòa bình hàn gắn hai dân tộc Czech và Slovakia. Ông được đề cử giải Nobel Văn học tám lần liên tục từ 1932 đến 1938.

So với tiểu thuyết hay truyện dài thì truyện ngắn dễ viết và cũng dễ đọc. Chính vì dễ dàng mà để tác giả tạo ấn tượng sâu đậm với người đọc là điều rất khó. Nhưng Karel Capek đã viết nên tuyệt tác “” đưa tên tuổi ông vang danh thế giới, trở thành biểu tượng của Czech và được đề cử giải Nobel Văn học tám lần liên tiếp.

“Hoa cúc xanh” là tuyển tập bốn mươi truyện ngắn theo thể loại trinh thám – hình sự, hay loạt truyện vụ án. Tuy nhiên, trinh thám hay vụ án chỉ là một sự vay mượn hình thức thể loại mà thực chất là những câu chuyện đời thường dung dị phản ánh sinh động đời sống xã hội bình dân Czech các thập niên đầu thế kỷ 20. Mỗi truyện ngắn chỉ khoảng 7 – 10 trang sách, vì thế không có những suy luận lắt léo hay tầng lớp những bí ẩn như những truyện trinh thám thông thường. Ở mỗi truyện thường có những người kể thân thuộc mà ta có thể gặp khi đi trên đường, sang nhà hàng xóm, vào tòa án, gặp gỡ trên chuyến tàu, cùng dùng bữa tối… Tưởng như chỉ nói chuyện phiếm bên tách trà, mỗi truyện bắt đầu như “tôi kể cho anh nghe nhé”, “ông Tymich nói”, “trung sĩ cảnh sát Brejcha nói”…, vào câu chuyện ngay lập tức, vừa đủ gợi sự tò mò háo hức của người nghe/người đọc. Vì thế ngôn ngữ cũng không cần dài dòng hoa mỹ và cực kỳ bình dị, cô đọng, súc tích như lời ăn tiếng nói hằng ngày, không thừa thãi lấy một chi tiết. Vì thế cũng yên ả lắm, như đang nằm giữa một cánh đồng hoa với gió mát và nắng ấm, cầm trên tay quyển sách và để từng con chữ quyến luyến vào tim. Cái chân phương mộc mạc ấy nhưng lại say đắm lòng người.

Đó là những câu chuyện bình dị quen thuộc mà ta vẫn hay nghe kể hay thường đọc trên báo: một kẻ chuyên lừa tình phụ nữ để lấy cắp tiền rốt cuộc lại gặp một ả lừa tình, vụ án một hồ sơ tuyệt mật bị lấy trộm mà tên trộm cứ ngỡ là hộp mỳ ống, bí ẩn về dấu chân đột ngột bốc hơi trên tuyết, vụ án tìm ra hung thủ giết người từ một tờ phiếu mua hàng… Đằng sau mỗi câu chuyện ngắn ngủi ấy là những tầng lớp ý nghĩa về con người, xã hội, đạo đức và lương tâm con người. Không hề giáo điều hay lý lẽ, tự bản thân mỗi câu chuyện là một bài học sống động. Không ai có thể tìm ra hoa cúc xanh vì nó mọc phía sau đường tàu với bảng “Cấm đi” nếu không có con bé Klára dở người và không biết đọc bởi con người luôn bị giới hạn bởi những quy chuẩn xã hội và bởi bản thân mình, nhưng một kẻ điên thì không. Hay việc ông cựu Bộ trưởng suốt bảy năm đấu tranh kêu oan cho một kẻ giết người, nhưng khi hắn được thả thì lại thú nhận chính hắn đã giết bà dì của mình. Ông không thể tống hắn lại vào tù sau bao công sức, danh dự và niềm tin đã đổ ra, cũng không thể dễ dàng sống với việc chính mình đã thả một kẻ giết người. Lúc này lương tâm hay danh dự có thể chiến thắng? Ngay cả Chúa trời cũng không thể phân xử được, bởi Chúa biết tất cả về con người – biết việc tốt và việc xấu, không thể xử án được con người. Tác giả tạo nên cái nhìn đa chiều muôn hình vạn trạng, không có ai hoàn toàn tốt và cũng không phải kẻ phạm tội nào cũng là đồ bỏ đi. Cứ thế tác giả liên tiếp vẽ nên những bức tranh nho nhỏ đầy màu sắc, súc tích nhưng thấm đẫm triết lý về cuộc sống và con người, bình dị nhưng sâu xa, chân thực bám sát thực tế, rồi ghép các bức tranh nhỏ thành một bức họa lớn mang đầy hơi thở cuộc sống người dân cộng hòa Czech đầu thế kỷ 20.
“Hoa cúc xanh” nhìn đơn giản nhưng thật ra rất cầu kỳ, nhất là khi mỗi câu chuyện đều có những sức nặng của riêng nó, tác giả phải thật tinh tế để lựa chọn giữ điều gì và bỏ điều gì để nội dung sao cho thật cô đọng, phải chọn dùng những từ ngữ thật chuẩn xác để không từ nào khác thay thế được. Tựa tiếng Việt được đặt lại là “Hoa cúc xanh” trong khi tên gốc là “Túi truyện thứ nhất, túi truyện thứ hai”. Tại sao lại là hoa cúc xanh? Bởi lẽ quyển sách mang vẻ bình dị của loài hoa cúc nhưng sắc xanh khiến nó trở nên đặc biệt và cuốn hút, đầy trân trọng như một viên ngọc quý trong nền văn học châu Âu và thế giới.

Đánh giá:4.5/5.
Yêu thích: 4.5/5.

Leave a Reply

%d bloggers like this: