REVIEW CỦA WINNY: MỘ PHẦN TUỔI TRẺ – HUỲNH TRỌNG KHANG

Đây là bài của bạn Winny đăng trên blog cá nhân của bạn ấy.  Cám ơn bạn đã đồng ý để đăng lại bài viết này
    là một tác giả trẻ sinh năm 1994, vừa tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM năm 2016. Tác phẩm đầu tay “” được Trọng Khang hoàn thành năm 2014 khi vừa tròn 20 tuổi.

   Quyển sách gây ngạc nhiên đối với bất kỳ ai lần đầu biết đến. Ngạc nhiên từ cái tựa rất lạ, ngạc nhiên từ cái bìa đầy tính biểu tượng với chiếc lá đang tan rã, ngạc nhiên vì tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ của tác giả. Và điều ngạc nhiên nhất, bất chấp đây là một tác phẩm đầu tay và được hoàn thành khi tác giả chỉ mới hai mươi tuổi, “Mộ phần tuổi trẻ” là một tác phẩm chắc tay, ấn tượng, dày dặn và sắc sảo như một tác phẩm phương Tây và mang nhiều tiềm năng của một nhà văn lớn. Cách kể chuyện theo lối phi tuyến tính trộn lẫn thời gian và không gian vào nhau, kéo người đọc từ những năm tháng bom đạn Sài Gòn những năm 60 thế kỷ XX cho đến vài năm sau, vài chục năm sau của cuộc sống bình yên nơi miền Nam nước Pháp rồi lại trôi tuột về bữa tối sặc mùi chính trị của những Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Nguyễn Văn Thiệu, sau đó lại du hành đến chiếc chả giò ngoài chợ Bến Thành cùng cô người yêu. Cái vòng xoáy thời gian mà tác giả quăng thả vô tư gợi nhắc đến “Người tình” của Marguerite Duras – họ dùng tâm thức để chơi đùa cùng không gian và thời gian. Từ một sự kiện, người kể dùng một người, một sự việc hay một sự vật nào đó để nhảy cóc đến tương lai gần, tương lai xa, rồi trở lại quá khứ xa, quá khứ gần. Quyển sách tựa như một vũ trụ của tâm thức, ở đó người kể tha hồ hô mưa gọi gió vần vũ những hoài niệm đớn đau. Những mảng ký ức như những trang sách rách rời vụn vỡ mà người kể đang trải ra và vặn xoắn trong toàn bộ chiều không gian và thời gian rồi để cho người đọc tự sắp xếp lại thành một câu chuyện hoàn thiện.

   Gã là con trai út trong một gia đình nhà binh: ba là trung tướng Việt Nam Cộng hòa, anh ba là thiếu tá, anh tư cũng tham gia chiến trận. Còn gã, chỉ là một sinh viên ban Triết hiền lành vô hại. Sài Gòn những năm 60 bị kẹp chặt trong vòng vây của những mưu đồ chính trị, những đời tổng thống lên rồi xuống, những nụ cười ẩn giấu mưu đồ đảo chính, “một xứ loạn cờ”, một xứ đầy bom đạn máu lửa, những cuộc càn quét đau thương đầy xác người, những cuộc biểu tình sinh viên đổ máu… Gã chứng kiến tất cả những điều đó, khắc sâu trong não tất cả, nhưng lãng đãng đi qua tất cả. Lẽ ra gã đã có thể theo nghiệp binh như truyền thống gia đình và có thể được hậu thuẫn rất lớn, hoặc không thì xuống đường hòa vào dòng tuổi trẻ sục sôi của thanh niên. Sức nặng của cuộc chiến quá lớn đặt trên vai những người trẻ mà đâu phải ai cũng đủ sức gánh lấy, gã nào biết làm gì với nó ngoài những hoang mang và dửng dưng? Gã ném mình vào những thú vui thể xác, vào rượu, vào sách, vào thơ ca, âm nhạc, triết học – bất cứ thứ gì miễn không phải là cuộc chiến ngoài kia. Gã ném mình vào tình yêu – thứ có thể giúp gã quên đi cuộc chiến bạo tàn của thế giới. “Những đất nước bị chia cắt, những dân tộc không có quyền định đoạt số phận của mình. Những dân tộc cô đơn chịu án lưu đày trên Trái Đất“. Nào quan tâm! Đó là chuyện to lớn của ai đó, còn trong buổi hoàng hôn lụi tàn, gã biết chẳng có đấng cứu thế nào có khả năng phục sinh hay cứu rỗi cả. Tất cả đã lụi tàn và mục nát, gã đành mặc kệ, bước một bước khỏi dòng chảy thời đại, sống bất chấp như những tên khốn, chấp nhận sự bất lực của bản thân và chịu chung thân số kiếp lưu đày trên chính đất nước của mình. Chẳng thể làm một người vĩ đại thì chỉ có thể là những tên khốn. Gã đã đứng bên lề lịch sử và để nó đi qua cuộc đời gã. Gã không đấu tranh, không phản kháng, gã quan tâm như cách gã bất cần. Gã – cũng như rất nhiều người trẻ tuổi thời đại hippi nông nổi và ngập ngụa – là những kẻ lạc loài của thời đại. Họ lẽ ra không nên sinh ra trong thời chiến. Mà có ai lẽ ra nên sinh ra trong chiến tranh đâu. Họ hưởng thụ, họ sa ngã, tất cả đều đang đi qua một cơn bão, một cuộc chiến tổn thương sâu sắc. Chiến tranh và hậu quả của nó nào có chừa một ai, ngay cả với những kẻ vô tư và bàng quan nhất. Họ đắm chìm trong ái tình men say, để những phút giây thăng hoa hóa sóng vỗ về giấc mộng bình yên. Họ đâu cần biết ngày mai – cái ngày mai chưa chắc đã đến – họ chỉ cần vùi mình trong giây phút này là đủ quý báu và thỏa mãn. Khi bom đạn thôi rơi, họ còn lại những gì? Có lẽ là không còn gì, nên họ đành ném mình vào những gì đang có. “Trước mắt chúng tôi là cuộc chiến, sau lưng chúng tôi là cuộc chiến, giữa những cuộc chiến là tình yêu. Chỉ có tình yêu thôi.” Gã đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại điều này như một chân lý ngây thơ của thuở đôi mươi – cái thuở mà người ta vẫn tin vào quyền năng bất diệt và sự vĩnh cửu của tình yêu. Nhưng sau cùng, gã nhận ra, giữa bom đạn chẳng có gì, tình yêu chỉ là thứ phù phiếm mỏng manh. Giữa chiến tranh chỉ là hận thù.
   Một trong những trường đoạn khắc họa rõ nét sự đối lập lệch lạc giữa cuộc chiến máu lửa và sự bàng quan của “những kẻ khốn” là khi nhân vật tôi chải tóc cho cô người yêu trong khi bên ngoài là cuộc biểu tình bạo lực. “Để anh chải tóc cho em. Tôi bắt đầu chải, mái tóc Neige suôn mềm, khuôn mặt em tư lự trước gương. Có tiếng súng xa xa. Chiếc răng lược trượt trên suối tóc Neige mà không hề gặp chút trở ngại nào. Đang giữa hồi nguy kịch. Những tên mặt sắt giật phăng chiếc mic trong tay Samartha. Cô gào lên, dùng bộ móng của mình cào nát khuôn mặt sắt. Tôi chải tóc cho Neige. Chiếc dùi cui đánh tới tấp vào cơ thể co rút của một thanh niên. Tôi chải tóc cho Neige. Vòi rồng hất tung đám đông. Một cô gái bị xô bắn ra giữa đường. Hai sinh viên ôm cứng lấy nhau, những trận đòn giáng thẳng xuống đầu họ. Hai tay mặt sắt lôi xềnh xệch một người bê bết máu trên đường. Một kẻ bị trói chặt tay đang gào thét. Đang giữa hồi nguy kịch. Tôi chải tóc cho Neige. Cuộc biểu tình biến thành bể máu. Tôi chải tóc cho Neige. Những tay cảnh sát đang rửa máu bám trên đường. Tôi chải tóc cho Neige. Không còn ai trước cổng dinh cả. Tôi chải tóc cho Neige. Ai đó hô lên, ở đây có một cái xác. Tôi chải tóc cho Neige. Tóc em dài và mượt.” Và để kết thúc, nhân vật tôi đã kết luận “Đó là một buổi sáng bình thường.” Máu thịt chẳng là gì, những cái chết không còn xa lạ, và những kẻ bên lề đã thấy quá nhiều đến mức không còn đáng bận tâm. “Hòa bình chỉ còn là ảo ảnh bóng nước, sự hiện hữu của chiến tranh cũng chỉ là một màn sương, người ta mất ý thức về nó. Họ chung sống với nó quá lâu, họ hô hấp nó, nhưng không thể bài tiết nó. Cuối cùng, nó vón lại thành một khối khí, nén chặt cuộc đời họ. Cái gì đã diễn ra quá lâu thường trở nên mơ hồ.”
   Nhiều người trẻ trong số họ đã chọn lựa cái chết để thoát khỏi số kiếp đọa đày. Những người còn sống như gã thì đành chạy trốn vào những hoan lạc ái tình. Gã sống vì bản thân, có lẽ gã không sai, nhưng đúng ở chỗ nào? Kẻ bên lề thì liệu có vô tội không khi mà ngay cả pho tượng cũng không vô tội trên mảnh đất này? “Có phải chúng ta bị hủy hoại như hôm nay là tại chiến tranh không?” – gã đã hỏi anh trai của mình như thế. Làm gì có ai đi qua một cuộc chiến mà vẫn toàn vẹn? Tuổi trẻ của gã bị bóp nghẹt, vặn xoắn, bức bối, chực chờ bùng nổ một cú thật hoành tráng nhưng chẳng thể lớn hơn cuộc chiến. Không thể bùng nổ được, những nỗi tuyệt vọng cứ lắng dần vào bên trong, chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong niềm nuối tiếc đau đáu cho đến tận hàng chục năm sau. Trong một thế giới đầy đau thương và mất mát, gã đã tự co lại để bảo vệ mình, bồng bềnh trôi trên những tầng mây của thiên đường hoang lạc. Gã cố bám trụ trên thiên đường mộng ảo đó, cố đừng để bị rơi. Vì khi rơi xuống, thịt nát xương tan. Chiến tranh là một sự vô nghĩa, nên gã cũng không dành chút ý nghĩa nào cho nó. Tuổi trẻ trong bom đạn là tuổi trẻ bị chôn vùi, chẳng còn gì cho ngày mai.

Leave a Reply

%d bloggers like this: