MỘT THUỞ “TRƯ CUỒNG”…

Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ

Dù không phải là một đứa trẻ nông thôn nhưng tôi sinh ra và lớn lên giữa tiếng ụt ịt rộn vang tứ bề và mùi lợn bốc tỏa không gian. Khắp mọi ngóc ngách của khu tập thể cán bộ giáo viên, bên trái bên phải, phía trước phía sau, nhà nào cũng cơi một chuồng lợn. Ở nông thôn đất đai rộng rãi, chuồng lợn thường không quá gần nhà, nhưng trong khu tập thể mỗi căn mười sáu mét vuông này, lợn và người sát cạnh nhau. Người ta làm gì còn cách nào khác khi đồng lương nhà nước còm cõi không đủ nuôi sống bản thân, sản xuất kinh doanh thì bị cấm ngặt, trong khi hàng hóa lại khan hiếm và giá cả chợ đen không khác gì cắt cổ.

Ngoài những giờ lên lớp, bố tôi cùng sinh viên mê mải tập những bài ca hùng tráng ca ngợi đất nước và cách mạng rồi đi biểu diễn khắp các trường đại học cao đẳng, nhiều đêm không về nhà. Còn mẹ tôi, người phụ nữ hay lam hay làm, sau giờ giảng sẽ cuốc đất, tưới rau, gánh nước, cắt guột, và nuôi lợn. Ôi những khúc chuối lợn, kỳ diệu thay cũng là món ăn vặt thường xuyên của chị em chúng tôi. Khi mẹ kê phần gốc của cây chuối dài ngoằng to như bắp đùi người lớn lên thớt là tôi và chị gái bắt đầu xúm lại, hau háu chờ mẹ thái qua hết phần củ chuối. Lúc này đã có thể trông thấy một mặt hình tròn tạo ra bởi những lớp vỏ chuối ôm bọc lấy nhau, hoa văn kỳ thú. Ở giữa thiết diện tròn ấy, là phần nõn trắng tinh, non ớn, ngòn ngọt và ít chát nhất. Nước bọt bắt đầu tứa ra giữa những kẽ răng. Mẹ lấy đầu nhọn con dao khoét vào giữa rồi bẩy ra một khúc nõn. Hai đứa vồ lấy, nhai rau ráu như đám lợn con. Lũ lợn trong chuồng bất chợt kêu ré lên như cảm thấy mối nguy bị tranh đoạn thức ăn. Mẹ tiếp tục thái qua phần đã khoét, để lại một phần nõn nữa hiện ra, lúc này đã bớt ngọt và chát nhiều hơn, nhưng vẫn còn ngon lắm. Cứ thế, chúng tôi chén được mấy khúc nõn. Thường là nhai luôn, nhưng có khi tỉ mẩn bóc ra những lớp lá non mỏng như lụa, đặt lên lưỡi cứ mát rượi đi, rồi mới ăn. Nhưng không phải hôm nào cũng may mắn có cây chuối ngon mà bỏ vào mồm.

Một ngày đẹp trời, tôi và chị gái dắt nhau đi ị (tất nhiên là ị ngoài trời giữa thiên nhiên cây cỏ), choáng váng phát hiện ra cứt của hai đứa đều có màu đen sì! Mất vài lần như thế mới hiểu ra là do ăn chuối lợn. Từ ấy sau mỗi lần chén đẫy chuối lợn, hai đứa đều hồi hộp chờ đến lúc đi tiêu để ngắm thành quả vĩ đại phi thường rồi hi hí cười với nhau. Chắc ngày xưa Colombo tìm ra châu Mỹ cũng chỉ vui có đến vậy.

Nhưng tuổi thơ tôi còn mang một ám ảnh kinh dị nữa liên quan đến lợn, ấy là “ông thiến lợn”, một thứ ba bị chín quai mười hai con mắt lan truyền trong lũ trẻ khu tập thể cán bộ giáo viên. Hẳn là người lớn bắt đầu trước. Không ngủ: ông thiến lợn bắt; khóc nhè: ông thiến lợn cắt lưỡi, bêu nắng: ông thiến lợn cạo đầu; con trai nghịch láo: ông thiến lợn cắt chim… Hoàn toàn không hiểu thiến lợn nghĩa là làm gì, nhưng khỏi phải nói chúng tôi sợ ông thiến lợn đến mức nào. Lũ trẻ thường tụ tập nhau lại, thì thào kể cho nhau nghe một đứa trẻ con nào đó khu bên đã bị ông thiến lợn bắt, có đứa khoe đã tận mắt nhìn thấy ông thiến lợn mặt đen sì mắt vằn đỏ, có đứa nói mặt ông xanh như chàm. Những truyền thuyết rờn rợn biêng biếc cứ lây lan trong đám trẻ con, tạo thành những ám ảnh tăm tối mà đôi khi một mình ở những chỗ vắng vẻ tôi cứ thon thót gai gai. Nhớ có một buổi trưa ở cái nhà trẻ tanh lòm cứt đái, chúng tôi đang chơi mấy trò trồng nụ trồng hoa, kéo cưa lừa xẻ, thì bỗng có tiếng rao rè rè cất lên: “Ai thiến lợn đê..ê..ê..”. Lập tức tất cả lặng ngắt, nín thở, nghe rõ cả tiếng ruồi nhặng đập cánh xung quanh. Rồi từng đứa từng đứa rón rén bò ra phía khe vách chỗ trông ra con đường đất vàng. Không thấy ai, nhưng tiếng rao thình lình rõ hơn như ngay sát bên tai: “Ai thiến lợn đê!”. Chúng tôi rúm vào nhau đông cứng thành một khối, tim đập bùm bùm trong nỗi kinh hãi tột độ. Dường như chúng tôi đã ngừng thở. Chỉ khi tiếng rao tắt dần, chúng tôi mới hổn hển thở lại. Đến giờ tôi vẫn không quên những tiếng rì rầm rì rầm âm âm miên man kể về ông thiến lợn, trong cái nhà trẻ tối tăm hôm đó…

Rốt cuộc suốt tuổi thơ tôi vẫn chưa trông thấy một ông thiến lợn bằng xương bằng thịt nào. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy hình ảnh người đàn ông với tiếng rao mời thiến lợn trong khu trường học toàn cán bộ giáo viên và sinh viên là một hình ảnh bi hài biết mấy. Sau Đổi mới, nhà tôi không còn chuồng lợn nữa, mẹ tôi nói nuôi lợn chỉ là lấy công làm lãi. Ngoài dạy học, bố mẹ tôi được mở một hiệu may. Dòng chữ sơn màu xanh lá cây viết thẳng lên phần tường đất bên cửa vẫn còn in hằn trong ký ức tôi: May – vá – chữa quần áo – Ngoài giờ.

Mặc dù nghèo đói, tôi vẫn nghĩ mình đã trải qua một tuổi thơ êm đềm. Chỉ đến khi đọc Trư cuồng, tôi mới thảng thốt: có khi nào giữa tiếng lợn kêu và mùi lợn bao quanh, bố mẹ tôi đã ngẫm ngợi rát bỏng về kiếp sống, giống như văn sĩ Hoàng trong câu chuyện đó?

*

Tôi đọc Chuyện ngõ nghèo từ khi nó vẫn còn là Trư cuồng trôi nổi trên mạng internet. Dù thế nhưng người trong giới văn chương không ai không biết về nó. Tôi cứ hình dung Trư cuồng giống như một kiểu hiệp khách giang hồ võ nghệ cao thâm, không thuộc về bang phái nào nhưng người ta nhất định phải biết tiếng và vì nể. Tiểu thuyết viết trong hai năm 1981-1982 nhưng mãi 36 năm sau mới bước ra ánh sáng trong hình hài một cuốn sách, dưới cái tên mới nhạt nhòa hơn, nhưng điệu buồn tê tái vẫn còn nguyên vẹn.

Chuyện ngõ nghèo lấy bối cảnh Hà Nội ở cái thời gian “sặc sụa lợn” nhất, khi người ta tưng bừng nuôi lợn, làm chuồng ngay sát nhà, nuôi ở gầm cầu thang, nuôi cả trên những căn hộ tầng cao – trong toa lét. Lợn là chủ đề của các cuộc nói chuyện, lợn kết nối các thành phần xã hội. Nhân vật chính là ông nhà văn – nhà báo Nguyễn Hoàng, do viết lách phạm cấm kỵ gì đấy mà bị cho nghỉ hưu non. Vậy là ông “lên cơn lợn”, ông lao vào cuộc cám bã vĩ đại của mình với tất cả nỗi háo hức lẫn niềm tin tưởng. Nhưng một nhà văn nuôi lợn ắt khác người, quả vậy, ông bắt đầu phóng chiếu bản thân mình và cả nhân sinh vào đàn lợn…

Câu chuyện này hay bởi vì nó chia sẻ sâu sắc một quãng thời gian “bão hòa chất lợn” mà gia đình tôi đã trải qua. Tiếng lợn réo tứ bề, mùi phân lợn bốc lên từ những luống rau mẹ tôi tưới mỗi chiều. Mỗi khi lợn ốm là mẹ lo tái người. Và nỗi ám ảnh về thịt lợn nữa. Làm sao quên được những lần mẹ dậy từ tinh mơ, khóa cửa nhốt chúng tôi trong nhà để đi xếp hàng ở cửa hàng mậu dịch, đến trưa mang về được vài lạng thịt lợn bèo nhèo đã bốc mùi ôi, nhưng không sao, rửa kỹ phi hành thơm lên là thành đại tiệc. Làm sao quên được cục mỡ lợn xẹt qua cái chảo xào như một tia chớp rồi chui tọt trở lại chiếc ăng gô nhôm cáu xỉn: tôi vẫn thường thán phục cái thao tác tuyệt vời chính xác của mẹ – xúc một cục mỡ đông ra, láng qua chảo thật nhanh rồi trút lại ăng gô, uyển chuyển như một diễn viên múa và chính xác như một kỹ thuật viên, chẳng màng đến ánh mắt tôi van vỉ cục mỡ hãy ở lại trên chảo lâu hơn chút nữa.

Điều an ủi duy nhất bấy giờ có lẽ là ở chỗ đa số người ta đều khổ như nhau, thiếu thốn như nhau, hiếm hoi lắm mới có người biết cách “cắt tiết cuộc đời”.

Nhưng tôi thích câu chuyện này còn bởi tính nhạc của nó. Có lẽ thừa hưởng chút máu âm nhạc từ bố mà tôi luôn cảm nhận câu chuyện giống như một bản concerto ba chương vang động, trong đó giọng solo xót xa, cật vấn, trăn trở của ông văn sĩ nuôi lợn đối thoại với rất nhiều giọng của các nhân vật khác: giọng thô tục cuồng vọng, giọng hào sảng chiến tranh, giọng phân tích triết lý, giọng ngây thơ lý tưởng, giọng xăm soi quy chụp, giọng kẻ cả trên tiền, giọng bá quyền sừng sộ, giọng thất vọng não nề, giọng yêu thương tan vỡ, giọng hài hước giễu nhại, giọng giận dữ điên cuồng, giọng ngác ngơ tội nghiệp… Tất cả thanh âm giao hưởng với nhau tạo nên những cuộc đối thoại không ngừng, tấu lên những đoản khúc tư tưởng miên man về mối liên quan giữa người và lợn trong một chiều không gian và thời gian rộng lớn: con người phải chăng chính là Người Lợn? bệnh trư cuồng có thuốc chữa không? con người sẽ biến dạng thế nào nếu phục tùng bái trư giáo? làm sao để bảo toàn nhân tri và lương tri? làm sao để sống thật với mình và mọi người?

Lần đầu đọc câu chuyện là tôi đọc tuần tự từ đầu đến cuối, cảm thấy một “nỗi buồn đen thăm thẳm” trên từng trang viết. Những lần sau khi cầm cuốn sách lên, tôi thường giở một vài trang bất kỳ, nghe một đoản khúc bất kỳ trong đó, cảm nhận cái dư âm đưa lại từ quá vãng của nó, lắng nghe chia sẻ nỗi thương xót con người vọng lên từ trong nó.

Song đôi khi sự đọc theo những đoản khúc ấy lại đưa tôi đến những ngóc ngách không ngờ. Ví dụ trong truyện có một thứ tôi cứ đau đáu tiếc, ấy là mấy cân tóp mỡ con ông Hoàng kiếm được nhưng cả nhà chỉ dám ăn một phần nhỏ, còn lại để bồi dưỡng cho lợn. Trời ơi cái món béo ngậy thơm lừng ấy, rưới thêm tí nước mắm là có thể đánh bay cả nồi cơm, lại đem nuôi lợn. Tôi ấm ức, tôi thấy bất công, tôi muốn phản đối. Nỗi đau đáu này thoạt đầu làm tôi ngạc nhiên, cái thời khốn khó ấy đâu còn nữa? Nhưng khi nhìn sâu vào nỗi đau đáu của mình, tôi gặp lại con bé còi cọc thèm thịt thèm mỡ ngày xưa, bỗng thương thắt ruột.

Có đôi khi lan man, tôi lại quay sang thương cả… con lợn. Trong văn chương, con lợn có lẽ là con vật chịu nhiều điều tiếng nhất, bị mang ra so sánh ẩn dụ ám chỉ với những điều tồi tệ nhiều nhất. Người ta mắng chửi nhau: đồ con lợn, bẩn như lợn, ngu như lợn. Người ta so sánh, ví dụ, đàn ông ngáy to: ngáy như lợn rống; phụ nữ béo, già, xấu: mẹ sề; nhà bẩn: chuồng lợn; nhà nghèo: máng lợn; cơm nghèo: cám lợn; phim đồi trụy: phim con lợn. Vua Lê Tương Dực vơ vét thuế khóa, sống xa hoa, hoang dâm bị dân gọi là vua lợn. Lê Lợi được nhận xét là có tướng lợn, sống không có đầu cuối, chỉ chung gian nan mà không chung phú quý. Riêng Nguyễn Xuân Khánh thì còn đặt con lợn vào những triết lý nghiêm trọng có tầm vĩ mô. Trong khi thực ra con lợn chẳng có tội tình quái gì, trái lại công trạng đối với kinh tế và ẩm thực chẳng bút nào kể xiết. Âu cũng là cái số của mày, lợn ơi!

*

Trở lại nỗi thảng thốt của tôi ở trên, thời ấy bố mẹ tôi có nghĩ ngợi gì về kiếp sống như ông Hoàng nào đó hay không? Tôi chắc bố tôi đã không. Bố yêu văn nghệ và ở trúng cái thời cả nước hát ca thì bố không khác gì một con chim gặp được vùng trời xanh của nó. Thỉnh thoảng chúng tôi có đi xem bố biểu diễn, khi thì ông lĩnh xướng một dàn đồng ca, khi ôm ghi ta, khi lại đeo một chiếc ác-coóc-đê-ông trước bụng. Nhưng tôi thích nhất thấy ông ngồi trước dàn trống, thỉnh thoảng vung dùi đập “choang” vào cái chũm chọe trông điệu nghệ vô cùng. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thời ấy các cô gái mê ông. Và khi ông ngồi trước hiên nhà với cây ghi ta, ông bắt chéo dây với dây tạo tiếng trống đệm phừng phừng gẩy bài Cùng nhau đi hồng binh, trông ông tuyệt vời hạnh phúc.

Mẹ tôi cũng không, bà quá bận rộn với bài vở, đàn con, đàn lợn, đám rau cỏ ngoài vườn, bãi sắn trên đồi và công việc cuốn thuốc lá thuê cho mấy hàng nước hằng đêm. Duy trì một gia đình trong bối cảnh khốc liệt ấy còn sức đâu mà nghĩ. Điều quan trọng nhất là lũ chúng tôi và “thủ trưởng” lợn được ăn no.

Thế mà cái ông văn sĩ Hoàng kia lại nghĩ ngợi quá nhiều những chuyện to tát đến mức mê sảng và suýt nữa đẩy gia đình vào chỗ tan nát. Tất nhiên ông Hoàng đúng – con người là một cây sậy biết nghĩ cơ mà, nhưng bố tôi cũng đúng và mẹ tôi cũng chẳng sai. Tất cả họ đã đều là chứng nhân cho một thời, thời của trư cuồng.

Box: Nguyễn Xuân Khánh viết tiểu thuyết Trư cuồng trong hai năm 1981-1982 nhưng không xuất bản được. Năm 2016 lần đầu tiên tác phẩm được Nhã Nam xuất bản chính thức với cái tên mới giản dị hơn là Chuyện ngõ nghèo. Cuốn sách nhận được sự quan tâm lớn của báo chí và dư luận. Tháng 4 năm 2017, một cuộc tọa đàm về tiểu thuyết đã được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Pháp. Tháng 9 năm 2018 tác phẩm được tôn vinh bằng giải thưởng Sách Hay do Qũy Phan Châu Trinh trao tặng.

Leave a Reply

Your email address will not be published.