CÁC NHÀ VĂN THÁNG BA

Albert Camus đã từng nói: “Mùa thu là mùa xuân thứ hai, khi mỗi chiếc lá là một bông hoa.” Tháng Ba, tháng khởi đầu của mùa xuân đích thực, cũng mang trong mình những chiếc lá xanh biếc, điểm tô cho văn đàn thế giới. Chào tháng Ba, tháng khởi đầu của một vụ mùa, cũng là tháng mà những nhà văn dưới đây đâm chồi nảy lộc ~~

Gabriel García Márquez (6.3.1928 )

Là chiếc lá đầu tiên của tháng Ba, mang theo hơi thở của vùng đất Mỹ La-tinh, Gabriel García Márquez sinh vào ngày 6 tháng 3 năm 1928 ở Colombia, và là một trong những nhà văn sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha vĩ đại nhất, xuất sắc nhất kể từ thời Cervantes – đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền văn học Mỹ La-tinh phát triển.

Ít ai biết rằng, Gabriel García Márquez không chút tiếng tăm trong sự nghiệp viết lách của mình cho đến ngoài 40 tuổi – với việc xuất bản Trăm năm cô đơn. Cuốn tiểu thuyết thứ 4 này không chỉ là tác phẩm định danh ông trên văn đàn Mỹ La-tinh mà còn đưa lại vị thế bất tử trên văn đàn thế giới. Cách hành văn của ông dường như đã “biến cái gọi là hiện thực bỗng trở thành huyền ảo hẳn và ngược lại, những cái vốn được xem là huyền ảo lại trở thành như thực.” Điều này mang lại những trải nghiệm khác biệt cho độc giả trên khắp năm châu. 

Khi được hỏi về giọng điệu của tác phẩm này, ông cho rằng nó đến từ người bà quá cố. “Tuy kể những câu chuyện đầy siêu nhiên và khó tin, nhưng bà tôi lại kể với giọng điệu hoàn toàn tự nhiên. Tôi phát hiện ra rằng những gì mình phải làm đơn giản là tin vào chính câu chuyện của mình và viết chúng với cùng một sắc thái mà bà tôi đã sử dụng: một khuôn mặt tỉnh rụi.”

Tác phẩm: Trăm năm cô đơn,…

Kenneth Grahame (8.3.1859)

Tạm rời xa bầu không khí Mỹ La-tinh, chúng ta hãy đến với xứ sở sương mù Anh quốc, nguồn cảm hứng Kenneth Grahame, một trong những nhà văn viết cho thiếu nhi có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Tiêu biểu là tác phẩm Gió qua rặng liễu, một trong những tác phẩm phiêu lưu về tình bạn được trẻ em yêu thích nhất trong mọi thời đại, đồng thời được coi là một cột mốc của văn học thiếu nhi thế giới.

Trái ngược với khung cảnh êm đềm trong tác phẩm của mình, tuổi thơ Kenneth Grahame chịu nhiều đau khổ khi người mẹ qua đời lúc ông 5 tuổi. Quá đau buồn vì mất mát này, cha ông đã trở nên nghiện rượu và buộc phải gửi 4 người con của mình cho người bà ở Berkshire. Sống trong một ngôi nhà đổ nát cạnh khu rừng bên dòng sông Thames êm đềm, được xem là bối cảnh của tác phẩm Gió qua rặng liễu, tuy trở thành học sinh trung học xuất sắc nhưng ông lại không đủ tiền để theo học ở Oxford. 

Ban đầu, Gió qua rặng liễu chỉ là câu chuyện kể trước khi đi ngủ mà Grahame viết cho con trai Alastair – tức Mouse. Khi con mình ở nhà trẻ, mỗi ngày ông đều viết thư cho con mình kể tiếp câu chuyện ấy. Lời văn tuy vụng về nhưng lại chứa đầy tình yêu thương dành cho con trai và làm say mê biết bao thế hệ độc giả trong suốt một thế kỷ sau đó. Gió qua rặng liễu kể về cuộc phiêu lưu của những con vật sống ở ven bờ sông, đồng thời cảnh báo về sự mong manh của làng quê nước Anh, nơi xã hội thay đổi sau thế chiến thứ nhất…

Tác phẩm: Gió qua rặng liễu,…

Douglas Adams (11.3.1952)

Chiếc lá thứ ba – Douglas Adams, cũng sinh ra tại Anh nhưng lại sớm lìa cành. Tuy chỉ sống vỏn vẹn 49 năm cuộc đời nhưng ông đã để lại series Bí kíp quá giang vào Ngân Hà với 15 triệu bản sách được bán ra, xếp thứ 4 trong danh sách 100 cuốn sách hay nhất mọi thời đại do BBC khảo sát. 

Douglas Adams từng không hề nghĩ rằng mình sẽ trở thành một tác gia khoa học viễn tưởng nổi tiếng nhất thế kỉ XX. Khi được hỏi rằng liệu mình có thích thể loại khoa học viễn tưởng không, ông thành thật trả lời: 

“Chà, có và không. Tôi thích sự đa dạng trong khía cạnh của chúng giống như khi ta vặn chiếc kính thiên văn cho phép ta đứng cách xa mọi thứ và nhìn chúng dưới góc nhìn hoàn toàn khác. Đó là những gì tôi cố gắng mang lại với series Bí kíp quá giang vào Ngân Hà, và đó cũng là điều tốt nhất mà khoa học viễn tưởng làm được. 

Nếu chỉ viết về những kẻ lang thang bắn nhau đì đoàng trong các tàu vũ trụ thì thật buồn tẻ. Tôi thích nó cho phép ta diễn giải những trải nghiệm trần tục thật rõ ràng theo nghĩa hoàn toàn mới, bằng cách đưa nhiều cách giải thích khác nhau vào những sự kiện tưởng chừng như vô cùng đơn giản và phổ biến. Tôi thấy việc này khá là vui.”

Tác phẩm: Bí kíp quá giang vào Ngân Hà, Nhà hàng ở tận cùng vũ trụ,…

Jack Kerouac (12.3.1922)

Nếu như Douglas Adams là chiếc lá sớm lìa cành của dòng văn khoa học viễn tưởng thì Jack Kerouac lại là một trong những chiếc lá đầu tiên của thế hệ Beat. Thuật ngữ này được Jack Kerouac sử dụng lần đầu năm 1948, xuất phát từ tiếng lóng từ tầng lớp dưới đáy của xã hội, nghiện hút và trộm vặt ở New York. “Beat” nghĩa rộng chỉ sự mệt mỏi, nhưng ông lại sử dụng nó theo nghĩa của “upbeat” (yêu đời, lạc quan) và “beatific” (hạnh phúc), đồng thời liên kết với cụm từ “on the beat” (nhịp đập dồn dập) trong âm nhạc.

Nhắc tới ông, người ta không thể không nhắc tới “On the road” (Trên đường), cuốn tiểu thuyết của những tâm hồn hoang dại. Được dựa trên câu chuyện có thật của chính mình cùng người bạn Neal Cassady, Jack Kerouac đã viết cuốn tiểu thuyết này trên một cuộn giấy teletyre dài 60 mét theo lối viết bộc phát. Ông quan niệm: “Không có ‘sự chọn lọc’ trong diễn đạt mà cứ đi theo sự liên tưởng của tâm trí, chìm vào những biển suy tư vô bờ bến với chủ đề triền miên.”. Do đó, Trên đường với đầy những câu văn dài miên man trên kết cấu của nền nhạc jazz rời rạc đã làm say đắm bao trái tim đầy hoài bão thích xê dịch. 

Tác phẩm: Trên đường,…

John Updike (18.3.1932)

Cũng là một nhà văn Mỹ như Jack Kerouac nhưng John Updike lại là một chiếc lá nở rộ cùng với tầng lớp trung lưu Mỹ chìm đắm giữa nỗi thất vọng, sự sợ hãi và những điều cấm kị. Đây cũng là chủ đề quen thuộc trong các tác phẩm của John Updike. 

Tuổi thơ đơn độc tại một trang trại ở Pennsylvania đã giúp ông làm quen với những con chữ trong trí tưởng tượng. Cùng với sự khuyến khích của gia đình, ông theo học tại Harvard theo diện học bổng và trở thành tổng biên tập cho tạp chí Harvard Lampoon. Sau khi tốt nghiệp Harvard ông dành toàn bộ thời gian để tập trung cho sự nghiệp văn chương. Sau này, series về nhân vật Rabbit đã nâng ông lên tầm đỉnh cao của văn chương Mỹ, mang lại cho ông hai giải thưởng Pulitzer vào các năm 1982 và 1990. Ông là một trong ba người nhận được giải thưởng này nhiều hơn một lần. 

Phong cách văn xuôi rất đặc biệt của John Updike gắn liền với vốn từ vựng phong phú, đôi khi khác thường, được truyền tải qua con mắt của “một giọng nói độc đoán, thông minh” mô tả thế giới hiện thực một cách ngông cuồng đồng thời vẫn vẹn nguyên tính hiện thực của văn chương truyền thống . Ông xem đó như một nỗ lực nhằm “mang đến cõi trần tục này vẻ đẹp vốn có của nó”. 

Tác phẩm: Rabbit ơi chạy đi, Kẻ khủng bố,…

Patrick Süskind (26.3.1949)

Trái ngược với những chiếc lá trên, Patrick Süskind dường như lại là một chiếc lá ẩn mình trong khu vườn văn chương. Tác giả của Mùi hương khước từ tất cả những vinh hạnh mà một nhà văn có thể đạt được trong đời. Ông kiên quyết không xuất hiện trước công chúng, từ chối các cuộc phỏng vấn, cùng nhiều giải thưởng khác nhau như Giải Gutenberg, Giải Tukan và giải thưởng văn học của tờ báo Frankfurter Allgemeine Zeitung.

Patrick Süskind có một sự nghiệp văn chương khiêm tốn nhưng dường như chỉ với Mùi hương cũng đủ để bạn đọc trên toàn thế giới biết đến ông. Xuất bản năm 1985, Mùi hương được dịch ra hơn 49 thứ tiếng với 20 triệu bản in trên toàn thế giới, trở thành một trong những cuốn sách Đức ngữ bán chạy nhất thế kỉ XX. Nhiều người cho rằng, tác phẩm được lấy cảm hứng từ câu chuyện có thật về kẻ giết người hàng loạt Manuel Blanco Romasanta (1809-1863), hay còn được gọi là người sói, kẻ đã giết nhiều phụ nữ và trẻ em và lấy mỡ cơ thể của họ để làm xà phòng và bán quần áo. Cái tên Jean-Baptiste Grenouille có thể được lấy cảm hứng từ nhà nước hoa người Pháp Paul Grenouille, người đã đổi tên thành ‘Grenoville’ khi ông mở cửa tiệm nước hoa xa xỉ của mình vào năm 1879.

Tuy ra mắt vào năm 1985 nhưng mãi đến 15 năm sau nhà sản xuất Bernd Eichinger mới mua được tác quyền làm phim vì tác giả từ chối mang tác phẩm lên phim trừ khi có một trong hai người làm đạo diễn: Stanley Kubrick và Milos Forman. Cuối cùng, đạo diễn của bộ phim lại là Tom Tykwer. Bộ phim đã mang về doanh thu 135 triệu USD, được khán giả thế giới chào đón y như cách người ta đã làm với cuốn tiểu thuyết của Patrick Süskind.

Tác phẩm: Mùi hương, Chỉ tại con chim bồ câu,…




Leave a Reply