Vào trong dòng nước

Đừng vội an tâm trước làn nước lặng – Ta chẳng thể nào biết bên dưới giấu những gì

Người ta tìm thấy xác một người mẹ đơn thân dưới con sông chảy qua thị trấn. Đầu mùa hè năm đó, một cô bé tuổi teen cũng gặp số phận tương tự. Họ không phải là những phụ nữ đầu tiên chết trông dòng nước hắc ám ấy, nhưng cái chết của họ đã khuấy động bao bí ẩn từng chôn vùi nơi đây.

Vẫn bằng cách viết đưa đẩy và những hiểu biết chính xác về tâm lý con người từng khiến hàng triệu độc giả hâm mộ từ tác phẩm bestseller quốc tế “Cô gái trên tàu”, “Vào trong dòng nước” đã một lần nữa thành công vang dội trên trường quốc tế. Ly kỳ một cách tao nhã, chậm rãi mà không buồn tẻ, Vào trong dòng nước là một câu chuyện trinh thám đậm chất văn chương không chỉ về những vụ án mạng cần điều tra mà còn về những lắt léo trong tâm trí con người, tính dối lừa của xúc cảm và ký ức; và, trên hết thảy, sự hủy diệt của quá khứ đen tối khi nó trườn tới quấn lấy hiện tại.

Bậc thầy (Tiểu thuyết)

Bạn chỉ là một nhân viên làm công ăn lương bình thường, nhưng lại mang trong mình rất nhiều tham vọng?
Bạn muốn vươn đến địa vị cao hơn, nơi mà bạn biết chắc bạn thuộc về nó?

Vậy bạn sẽ làm gì khi đột nhiên bạn vướng vào một vụ lừa đảo và khiến đời bạn tanh bành đảo lộn?

SỤP ĐỔ hay LỘT XÁC 

Nếu bạn chọn #lột_xác thì chào mừng bạn đến với BẬC THẦY, tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất trong năm 2016.
Với vũ khí hộ thân không gì hơn trí thông minh sắc sảo và tài ngụy tạo, Judith đưa đường dẫn lối bản thân từ một cô nàng ở trong xó xỉnh của giới nghệ thuật London đến nơi mà cô hằng mong ước, từ French Riviera tới Genève, tới Rome, biến hình như tắc kè hoa, tính toán những con đường để giành lấy cuộc sống nhung lụa.

Cuốn tiểu thuyết ly kỳ này đã mở đầu cho bộ ba tác phẩm hấp dẫn, dõi theo tiến trình cuộc đời của Judith, một người đàn bà vừa mong manh vừa lạnh lùng. Trong lúc Judith hành động càng lúc càng xảo trá, nhập vai càng ngày càng dễ như thay giày, Hilton cũng khéo léo dệt nên một thế giới hào nhoáng, mang đầy cảm giác sắc bén về cuộc sống phù hoa đương đại.

Rốt cuộc, ta sẽ đi đâu khi ta đã đi quá xa?

Sách ‘Hội hè lễ Tết của người Việt’: Bức tranh sống động và khả tín về văn hóa Việt

(Thethaovanhoa.vn) – Xuất hiện trở lại sau gần 80 năm kể từ khi ra đời, cuốn sách “Hội hè lễ tết của người Việt” của cố học giả Nguyễn Văn Huyên vẫn khiến các chuyên gia phải ngỡ ngàng. Bởi, đó là tiếng nói bình đẳng và dân chủ của một người Việt, trong bối cảnh mà các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng, văn hóa Việt vẫn đang chủ yếu được thực hiện bởi các học giả phương Tây.

 

Buổi tọa đàm về cuốn sách này diễn ra vào cuối tuần qua, với sự góp mặt củanhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng và TS Mai Anh Tuấn.
Nghiên cứu văn hóa Việt theo “kiểu Tây”
Hội hè lễ tết của người Việt tập hợp những tiểu luận nghiên cứu của cố học giả Nguyễn Văn Huyên về lễ-tết-hội, về tín ngưỡng, tâm thức tôn giáo của người Việt trong xã hội truyền thống. Các tiểu luận này được ông viết bằng tiếng Pháp trong khoảng thời gian ông làm việc tại Viện Viễn Đông Bác cổ từ năm 1938.

Thực tế, vào quãng năm 1995, một số công trình của Nguyễn Văn Huyên đã được NXB Khoa học Xã hội tuyển chọn, dịch và in thành tập nhưng có số lượng rất hạn chế. Do vậy, hơn 20 năm sau, Công ty Nhã Nam đã lên kế hoạch tái bản và in lại những tác phẩm này để giới thiệu rộng rãi với độc giả. (Trước đó, năm 2016, cuốn Văn minh Việt Nam của ông cũng được phía Nhã Nam tái bản.)

Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, TS. Mai Anh Tuấn và PGS.TS. Nguyễn Quang Hưng trong buổi tọa đàm về cuốn sách.
Theo các nhà nghiên cứu, vị trí ngang hàng với các học giả phương Tây thời bấy giờ của học giả Nguyễn Văn Huyên,và việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Pháp, cũng như một số tiểu luận tiền thân từ các buổi diễn thuyết của ông ở bảo tàng Louis Finos (chủ yếu cho người Pháp) đã tạo điều kiện để những nghiên cứu nàya Nguyễn Văn Huyên tiếp cận đến giới tinh hoa nước ngoài, góp vào kho tàng tư liệu một tiếng nói mang tính “bản địa” và bình đẳng.
Từng trang sách Hội hè lễ tết của người Việt đem đến những mảng màu phong phú của văn hóa, phong tục Việt: các ngày lễ trong năm như Tết Nguyên đán, Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu,…; các lễ hội của một cộng đồng như hội Phù Đổng, vấn đề thành hoàng; tục thờ thần tiên, y phục Việt, tục thờ người chết,…
Một điểm đặc biệt trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyênđược nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượngnhắc tới: cách đưa vấn đề mang tính dân chủ, có sự học hỏi cách thức nghiên cứu của phương Tây. Ông không áp đặt đánh giá hay kết luận mà đặc tả và phân tích thông tin theo hướng gợi mở, khách quan trên góc độ người quan sát để người đọc tự có suy luận riêng.
Ngoài ra, công trình của Nguyễn Văn Huyên cũng có nhiều điểm cải tiến trong cách thức so với nghiên cứu được xem là cơ bản về văn hóa Việt Nam xuất bản năm 1915 của Phan Kế Bính là Việt Nam phong tục.Trong đó, quan trọng nhất là Nguyễn Văn Huyên đã áp dụng phương pháo mô tả và nghiên cứu dân tộc học thực địa.Viết về Tết Trung thu, ông chỉ rõ ra “rằm tháng Tám: ngày 24 tháng 9 năm 1942” rồi khảo tả cụ thể đúng ngày đó, không nói chung chung.

Song, với vị trí một công trình độc lập, nghiên cứu về lễ-tết-hội người Việt của Nguyễn Văn Huyên vẫn còn tồn tại những hạn chế. Ví dụ như phạm vi nghiên cứu hầu như gói gọn ở đồng bằng Bắc Bộ, hay một số nhận xét chỉ chính xác trong phạm vi nhất định và đến hiện nay, nhiều tập tục đã thay đổi.

Cá tính văn hóa Việt Nam là gì?
Hội hè lễ tết của người Việt có giới thiệu về Bản đồ phân bố các thành hoàng ở tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Văn Huyên. Theo đó, ông tính ra trên phạm vi địa giới Bắc Ninh lúc bấy giờ có khoảng 598 làng, thờ 710 vị thành hoàng.
Bàn luận về tín ngưỡng thờ thành hoàng của người Việt, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng,Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói: “Có 2 yếu tố cơ bản hình thành nên khái niệm “làng”: nghề truyền thống và sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng chứ không phải sự quần cư. Làng nào cũng thờ thành hoàng, đó là người sáng lập làng, ông tổ nghề hoặc một vị thần mà dân làng yêu quý”.
Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng bổ sung: “Thực tế việc thờ thành hoàng đến hiện nay gần như đã “chết” rồi, có chăng chỉ còn tồn tại ở các làng nghề. Còn những làng thờ thần đất, thần nước,… thì giờ đã không còn thờ nữa. Việc thờ thì cũng có tính chất tượng trưng thôi chứ cũng không quá linh thiêng”.
Trong khuôn khổ tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng đặt ra một câu hỏi mà theo ông là đã gây trăn trở tử lâu “Cá tính văn hóa của Việt Nam là gì?”. Thế rồi, ông nhận định: “Tinh thần của công trình Nguyễn Văn Huyên cho thấy văn hóa tín ngưỡng là hồn cốt của văn hóa Việt Nam”.
Phong tục tập quán và tín ngưỡng vẫn luôn vận động không ngừng theo sự chuyển mình của xã hội. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên, dù được thực hiện từ hơn 70 năm trước nhưng vẫn còn đầy đủ giá trị, không chỉ về mặt tư liệu mà còn là tấm gương sáng cho các nhà văn hóa, nhà xã hội học hiện nay về một cách thức nghiên cứu dân chủ, hiện đại.
Về tác giả Nguyễn Văn Huyên
Học giả Nguyễn Văn Huyên(1908-1975) sinh tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội, chính quê làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ).
Tên tuổi và sự nghiệp Nguyễn Văn Huyên gắn liền với sự hình thành, phát triển của ngành dân tộc học, nhân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Ông cũng là người có những đóng góp đặc biệt trong việc xây dựng nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông được xem là học giả chìa khóa khi muốn hiểu biết về văn hóa Việt.

Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản

Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản

Hai tác giả:
Ryoichi Mikitani, Giáo sư danh dự, Đại học Kobe
Hiroshi Mikitani, Nhà sáng lập và CEO, Rakuten, Inc.

Trong cuốn sách này, hai tác giả là hai cha con, một người là giáo sư kinh tế hàng đầu Nhật Bản, một người là doanh chủ và là tỷ phú Nhật, cùng nhau bàn thảo về công cuộc tái kiến thiết Nhật Bản. Hai cha con đưa ra nhận xét, đánh giá về mọi mặt của xã hội Nhật Bản hiện đại, từ kinh tế tới giáo dục, y tế, việc làm,…

Hiroshi Mikitani (sinh năm 1952): nhà sáng lập, chủ tịch và CEO của Rakuten, Inc., một trong những công ty thương mại điện tử và Internet của Nhật Bản đứng vào hàng những công ty tầm cỡ thế giới. Theo danh sách tỉ phú của tạp chí Forbes thì tổng tài sản của Hiroshi Mikitani được ước tính vào khoảng 8,7 tỉ đô la tính đến tháng Ba năm 2015.

Hiroshi Mikitani, là thành viên của Hội đồng Sức Cạnh tranh Quy mô Ngành nghề – một trong ba hội đồng đóng vai trò kiểm soát cho kế hoạch hồi sinh nền kinh tế (Abenomics) của Thủ tướng Abe.

Ryoichi Mikitani (1929-2013): một trong những kinh tế gia hàng đầu Nhật Bản, từng nghiên cứu và làm việc tại Đại học Harvard, Stanford, Yale và Kobe. Ông đã có những đóng góp to lớn cho nước Nhật trong công trình Japanese Society for Monetary Economics (tạm dịch: Xã hội Nhật Bản phục vụ nền kinh tế tiền tệ).

*

Được trình bày dưới dạng đối thoại của hai cha con Mikitani, độc giả Việt Nam sẽ dễ dàng hiểu về công cuộc tái kiến thiết Nhật Bản dựa trên nền tảng là đề xuất “Lại là Nhật Bản” của Hiroshi Mikitani với vai trò là thành viên của Hội đồng Sức Cạnh tranh Quy mô Ngành nghề – một trong ba hội đồng đóng vai trò kiểm soát cho kế hoạch hồi sinh nền kinh tế (Abenomics) của Thủ tướng Abe.

Không hề lạc quan, tự mãn trước những thành tựu của đất nước, hai cha con Mikitani đã chỉ ra những bước thụt lùi, những thất bại của Nhật Bản. Có thể nói, những đối thoại của họ không chỉ là sự phê phán sâu sắc với xã hội Nhật Bản, mà còn là sự phẫu tích cho từng vấn đề mà Nhật Bản đang phải đối mặt, với mong muốn rằng việc đưa ra cuốn sách “sẽ giúp mọi người nhận ra tình thế khó khăn mà Nhật Bản đang phải đối mặt, cũng như đưa ra tầm nhìn về một tương lai tươi sáng hơn và lộ trình để tới đó”.

Một tỷ phú, doanh chủ lừng danh thế giới, Bill Gates, cũng đề cao cuốn sách này. Bill Gates viết về cuốn sách: “Nếu bạn cũng quan tâm tới Nhật Bản như tôi, tôi nghĩ bạn sẽ thấy cuốn sách Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản này là góc nhìn thông minh và đột phá về tương lai của một quốc gia kỳ diệu.”

Còn giáo sư Harvard Benjamin M. Friedman (giáo sư Kinh tế Chính trị) viết về cuốn sách:

“Ryoichi Mikitani là một trong những nhà kinh tế sâu sắc và tìm tòi nhất Nhật Bản. Và Hiroshi có lẽ là doanh chủ năng động nhất Nhật Bản ngày nay. Rõ ràng Ryoichi đã truyền lại cho con trai mình lòng yêu nước sâu sắc. Bất cứ ai đang mong mỏi một nước Nhật huy hoàng đều nên hy vọng rằng những quan điểm của hai cha con Mikitani sẽ nhận được sự quan tâm sâu rộng của chính phủ và người dân Nhật Bản.”

*

Một trích đoạn cực ngắn từ cuốn sách:

“Nếu tôi được đề nghị đưa ra lời khuyên cho một người như thế, tôi sẽ cảnh báo họ một chuyện: Toàn cầu hóa không có nghĩa là mất đi bản sắc dân tộc. Thế giới giờ đòi hỏi chúng ta nói tiếng Anh. Đó là điều tự nhiên, nhưng chúng ta cần hiểu toàn cầu hóa thực sự dựa trên tiền đề là chúng ta duy trì bản sắc người Nhật. Hãy đưa những phần tốt đẹp của Nhật Bản – lịch sử và truyền thống của chúng ta – vào những gì chúng ta làm trên sân khấu quốc tế. Khi làm như thế, ta sẽ đóng góp cho thế giới.”

Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ Phủ – Chốn thiêng trong cõi thực

Bài và ảnh: Midori Chan

Khi được hỏi về “Cuốn sách của năm”, không hiểu sao mình chỉ nghĩ đến cuốn sách này. Cho dù mình chắc rằng biết nếu mình nói về nó, thì chính là mình không biết tự lượng sức mình, bởi vì mình chỉ mới bước đi những bước chập chững đầu tiên trong chặng đường dài tìm hiểu về văn hóa của chính dân tộc mình thôi.

Nhưng có một điều gì đó bên trong đã thôi thúc mình nói về nó. Nói về một tín ngưỡng mang bản sắc dân tộc Việt Nam dường như đang bị bỏ quên và sợ hãi trên chính nơi chôn nhau cắt rốn này.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2012. Và có lẽ là, chưa di sản văn hóa nào lại gần gũi với chúng ta hơn thế. Có năm nào hội Phủ Dầy không nô nức du khách? Có năm nào Phủ Tây Hồ chưa từng lên tivi vì kẹt cứng mỗi dịp xuân về?

Tuy nhiên, do có sự đứt gãy văn hóa trong một thời kỳ dài, dẫn đến sự hiểu biết không đúng đắn, nhiều người đến nay vẫn cho rằng tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ Phủ theo một quan niệm như “đồng bóng”, “mê tín dị đoan”… và rất ngại ngùng, thậm chí trốn tránh nhắc đến, cũng như tìm hiểu về nó. Trong số hàng chục ngàn người đến các Đền, Phủ cầu an mỗi năm, liệu có được bao nhiêu người hiểu rõ đền, phủ đó thờ những ai? Vì sao lại thờ các vị ấy?

Trong tác phẩm “Bước chậm lại giữa thế gian vội vã”, Đại đức Hae Min từng viết:

“Chính sự thiếu hiểu biết về các tôn giáo khác

Là nguyên nhân gây ra sự đàn áp và các mẫu thuẫn tôn giáo

Những lời dạy của các thánh nhân đều rất hay và đáng trân trọng

Sẽ không hại gì nếu bạn tìm hiểu chúng đâu.”

Vậy thì chúng ta còn ngại gì khi tìm hiểu chính tín ngưỡng của dân tộc mình.

Đây là một quyển sách sơ lược về Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ phủ. Tuy vậy, sách cũng có khá nhiều kiến thức cơ bản cho nhu cầu của một người chưa biết gì về Tín ngưỡng này và muốn khám phá.

Sách gồm hai phần chính: Chốn linh thiêng, Thiêng nơi cõi thực và Phụ lục về nơi Cửa Thánh.

Ở phần đầu tiên, Chốn linh thiêng, hệ thống các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu, với những thông tin cơ bản nhất như tên hiệu, công trạng, nơi thờ tự tiêu biểu.

Bên cạnh đó, cuối phần có giới thiệu thêm về các lớp tín ngưỡng có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ phủ, ví dụ như tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, tín ngưỡng thờ Tứ Vị Hồng Nương.

Phần thứ hai, Thiêng nơi cõi thực, cung cấp thông tin về một số nghi lễ trong tín ngưỡng, về khăn áo, hoa man – tài mã, lễ vật tiến cúng…

Đặc biệt nhất ở trong tác phẩm, là hai trang viết nhỏ nói về chính những vấn đề còn tồn tại trong Tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ hiện nay. Vì sao một tín ngưỡng đẹp như vậy lại ngày càng biến tướng? Và mình khá là ấn tượng ở chú thích của một tấm ảnh trong mục này, cũng là tinh thần chúng ta nên giữ gìn trong các vấn đề tâm linh: “Việc Thánh cốt ở lòng thành…”

Ngoài ra, như một món quà nhỏ phía cuối sách, bên cạnh danh sách các Đền, Phủ quan trọng được các tác giả hệ thống với địa chỉ, số điện thoại…; còn có một bài Văn khấn Đền/phủ thông dụng, mà chúng ta có thể áp dụng ngay trong mùa xuân sắp về.

Đừng e dè với một quyển sách. Một quyển sách không thể khiến người đọc đi “hầu đồng” ngay được. Không phải cứ tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu là ngày mai chúng ta có thể hát văn. Khi hiểu đúng, khi không còn ngần ngại, không còn sợ hãi, chúng ta mới có thể bảo tồn được di sản văn hóa này. “Tín ngưỡng là một nét văn hóa. Văn hóa tạo nên linh hồn dân tộc. Một dân tộc không có bản sắc là một dân tộc chết.”

NÀNG AURA – Carlos Fuentes (katebookreview)

Aura

Đọc bài gốc ở đây nhé.

Người ta nói “thời con gái” ý chỉ vẻ đẹp con gái chỉ có một thời mà thôi. Thời ấy qua rồi muốn được hừng hực sức sống tươi trẻ thì không thể nữa. Bởi vậy mà người phụ nữ nào cũng muốn níu giữ cái thời đẹp nhất ấy.

Đó chính là nét chính trong “Nàng Aura”. Khi nhân vật nữ chính trong truyện là một bà lão trên 100 tuổi nuôi dưỡng tham vọng níu giữ vẻ đẹp tươi trẻ của mình. Nội dung truyện chỉ tiện nói đến đây thôi nếu nói thêm nữa thì sẽ thành ra spoil hết cả cuốn mất.

Nhưng rốt cục, sau 94 trang truyện, độc giả nhận ra được điều gì?

Rằng tham vọng của con người có ma lực đáng sợ. Đôi khi nó sẽ điều khiển con người bất chấp mọi phương thức để thực hiện nó.

Đặc biệt ở đây tham vọng còn đi đôi với dục vọng. Khi bà già không chỉ muốn cuộc sống của một thiếu nữ tươi trẻ về mặt ngoại hình mà còn về cảm xúc. Dục vọng cám dỗ khiến người ta rơi vào đê mê đến mất phương hướng. Dục vọng trở thành đỉnh điểm khi ý chí con người hoàn toàn chịu khuất phục trước nó. Không còn lo sợ đến vã mồ hôi, không còn kín đáo lẩn tránh. Nó có ma lực cuốn hút khó cưỡng đến như vậy đó.

Tất cả những điều ấy được thể hiện qua bối cảnh vô cùng ma mị, u ám, bí ẩn. Nó tù túng và tăm tối như chính cuộc đời của các nhân vật trong truyện.

“Đàn ông đi săn và chiến đấu. Đàn bà mưu mô và mơ ước; là mẹ của trí tưởng tượng, của các vị thần. Đàn bà có được tầm nhìn thứ hai, những đôi cánh cho phép bay tới cõi hư vô của ham muốn và trí tưởng tượng… Các vị thần cũng giống như những người đàn ông, được sinh ra và chết đi trên ngực của một người đàn bà…”

Đọc hết câu chuyện này mới thấy câu nói trên đúng quá đúng. Đàn bà là một sinh vật đáng để sợ.

“Nàng Aura” được viết ngắn gọn, súc tích, câu chữ ngắn gọn mà có hồn, ma mị, làm người đọc mộng mị như đang vật vờ giữa ranh giới giữa thực và mơ. Đến cuối khi bừng tỉnh mới “hết hồn chim én” mà thốt lên: “wow! Hóa ra câu chuyện nó là như vậy!”

Trong truyện có đôi cảnh tượng kinh dị và vài khúc 18+ cực khiêu gợi. Đặc biệt với giọng văn ma mị như thế này càng đòi hỏi độc giả phải đọc chậm và tưởng tượng, điều đó làm cho những đoạn 18+ nóng càng nóng hơn. Bạn đọc nên cân nhắc!

Thực sự khi đọc xong quyển này để hiểu được hết ý nghĩa câu chuyện không phải là dễ dàng. Bạn sẽ phải suy ngẫm một chút và nhận ra nó rất sâu xa đó. Sâu xa sâu sắc mà thật. Nghĩa là cái ham muốn ấy là có thật mặc cho câu chuyện có hơi hư cấu. Nhưng điều mà tác giả muốn hướng đến là vô cùng thực tế.

Khi bạn còn trẻ bạn sẽ thấy quãng thanh xuân của mình thật tươi đẹp tràn đầy nhựa sống. Khi còn trẻ bạn không phải gánh quá nhiều trách nhiệm hay bận tâm. Bạn đẹp và ưa thử thách với những cuộc chinh phục, với những phiêu lưu và tìm tòi. Thời thanh xuân ấy quá tuyệt vời đến mức sẽ khiến bản thân bạn sống vội để cố trải nghiệm được càng nhiều càng tốt. Hoặc sẽ sống thật chậm, như nhâm nhi một ly rượu vang, để thưởng thức từng giọt từng giọt vị cay cay đầu lưỡi. Nhưng dù cách tận hưởng tuổi xuân của bạn có như thế nào, thời gian vẫn trôi. 1 ngày 24 giờ. 1 giờ 60 phút. 1 phút 60 giây… bất di bất dịch. Cho nên đến khi bắt đầu cảm nhận được thời thanh xuân đẹp thật đẹp ấy sắp hết, bạn dễ trở nên tham vọng. Có thể tham vọng đến mức mất hết lý trí, vượt qua cả trí tưởng tượng như nhân vật trong truyện.

“Cuối cùng, bạn sẽ thấy đôi mắt màu xanh đại dương kia tuôn trào, tung bọt, trở về với êm ả trong xanh rồi hừng hực trở lại như một luồng sóng: khi nhìn vào đôi mắt ấy, bạn phải tự nhủ đó không phải sự thật và đôi mắt xanh tuyệt đẹp kia cũng giống như tất cả những đôi mắt xanh đẹp khác mà bạn đã từng và có thể gặp. Tuy nhiên, đừng tự lừa dối mình: đôi mắt tuôn trào, biến đổi ấy, như thể tặng cho bạn một bức tranh mà chỉ mình bạn mới có thể đoán trước được và mong đợi.”

CÔ GÁI CUỐI CÙNG CỦA DÒNG HỌ STANFIELD – Marc Levy (katebookreview)

Bài gốc đăng ở đây.

Nếu như ví những tác phẩm của Guillaume Musso là tình mới thì ắt hẳn những tác phẩm của Marc Levy là tình đầu của mình rồi. Là những cuốn sách đã khiến mình yêu văn học lãng mạn, đặc biệt là dòng trinh thám – lãng mạn, mà trước đó mình chỉ thích đọc trinh thám không thôi.

Mỗi tác phẩm của Marc Levy đều đặc biệt. Dù ông là tác giả văn học lãng mạn Pháp mà mình cực thích, nhưng mình lại không hay đọc tác phẩm của ông. Sách của Marc Levy mình không đọc nhiều, ấy vậy mà vẫn yêu… lạ thật!

Mỗi tác phẩm của ông mà mình đọc, đem đến cho mình cái cảm giác như đó hẳn là tác phẩm của cả một “công trình” nghiên cứu. Nếu “Kiếp sau” là kết quả của những nghiên cứu, tìm tòi về hội họa thì “Chân trời đảo ngược” là đúc kết những kiến thức về y học, khoa học…

Không chỉ có vậy, đan xen trong mỗi tác phẩm của Marc Levy là cả một cốt truyện tài tình, những nhân vật đời thường mà điển hình, những cuộc đối đáp tung hứng duyên dáng, thông minh và hài hước, quan điểm sống, châm ngôn tình yêu, những quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính… được nêm nếm vừa phải, hài hòa. Liệu còn có thể đòi hỏi gì nhiều hơn thế?

Qua tác phẩm của mình Marc Levy muốn truyền tải rất nhiều thông điệp. Những điều đó được đề cập đúng chỗ và chẳng bao giờ thừa. Đặc biệt ở “Cô gái cuối cùng của dòng họ Stanfield”, độc giả được du hành thời gian qua lời kể của các nhân vật, theo chân hai nhân vật chính lần mò tìm hiểu, khám phá về quá khứ đầy bí mật của mẹ mình. Những bí ẩn đã gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau xuyên suốt 3 thế hệ.

Đọc tác phẩm của Marc Levy mình chả bao giờ tốn quá nhiều thời gian. Vì rất dễ đọc, dễ hiểu, súc tích và rất logic. Đọc đến đâu câu chuyện hiện ra trong đầu rất nhanh và sinh động. Diễn biến đưa đẩy tạo sự tò mò và duy trì được sức hấp dẫn cho đến cuối truyện. Việc kể câu chuyện một cách xen kẽ giữa các nhân vật cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện.

Ở “Cô gái cuối cùng của dòng họ Stanfield” đem đến cho người đọc rất nhiều điều, và nó khác so với những tác phẩm trước của Marc Levy, điều mà mình nghĩ tạo nên sức hút trong ngòi bút của Marc Levy, khiến tác phẩm của ông không bị rập khuôn nhàm chán. “Cô gái cuối cùng của dòng họ Stanfield” không chỉ đơn thuần nói về tình yêu nam nữ, mà còn là tình cảm gia đình:

“Tại sao những người mà em không quen biết lại khiến em quan tâm hơn là gia đình của em?
Nếu là với một người đàn ông khác không phải anh trai tôi, có lẽ tôi đã nói ra sự thật. Tôi những muốn đi khám phá thế giới để tìm thấy ở đó niềm hi vọng mà tôi không có được ở lứa tuổi đôi mươi, lẩn trốn nỗi sợ hãi phải nhìn cuộc đời mình theo một quỹ đạo đã được vạch sẵn, một cuộc đời mà có lẽ sẽ giống cuộc đời của mẹ tôi, giống với được đời mà em gái tôi đang sống. Tôi cần phải rời xa người thân của mình để có thể tiếp tục yêu thương họ. Bởi vì mặc dù được họ dành cho rất nhiều tình yêu, tôi vẫn thấy ngột ngạt ở nơi ngoại ô London này.”

về tình yêu đồng giới, về hận thù và mất mát, về chiến tranh và hậu quả không thể chối bỏ của nó. Lời nói dối nối tiếp nói dối, bí ẩn lại thêm bí ẩn. Cốt truyện logic và cuốn hút. Cho ta cái suy ngẫm thế nào mới đích thực là hạnh phúc? Có thật nhiều tiền, sống thật giàu sang? Có danh có tiếng có uy có quyền? Hay phải chăng mấy thứ kể trên không cần quá quá nhiều mà cái ta cần là tình yêu của người thân, bạn bè, là sự thật và tâm hồn thanh thản? Cuộc sống gây dựng lên bởi sự dối trá và hận thù có thể dẫn đến hạnh phúc? Và một lời nói dối có thể được xóa đi bởi lời nói dối khác? Lấy cái gì để bao biện cho sự hèn nhát của bản thân đây?

“Ta không bao giờ được giải thoát hoàn toàn khỏi một lời nói dối, khi cuối cùng chính bản thân ta cũng tin vào nó.”

“Cháu hãy nghe kỹ lời khuyên của ta, đừng bao giờ để cơn nóng giận chi phối cách hành xử của cháu, bởi không sớm thì muộn cháu cũng sẽ phải gánh chịu hậu quả.”

Câu chuyện của mỗi thế hệ đều quá hay. Tấn bi kịch xảy ra thật khốc liệt và tàn nhẫn. Bên cạnh đó còn rất nhân văn. Những nhân vật nữ có tính cách quật cường, mạnh mẽ rất đáng khâm phục.

Với bản thân mình, “Cô gái cuối cùng của dòng họ Stanfield” có nội dung cuốn hút, thú vị, có lối dẫn dắt tinh tế và ý nghĩa sâu sắc. Có thể một phần là do cảm quan mình sẵn thích lối viết và những câu chuyện của Marc Levy cho nên đến tác phẩm này mình thấy ông viết thậm chí còn hay hơn những tác phẩm trước. Đọc câu chuyện này giàu ý nghĩa nhưng không nặng đầu và có thể đọc được nhanh vì kết cấu bối cảnh không phức tạp. Hơi tiếc một điều rằng nỗi cô đơn, tuyệt vọng khi bị bỏ rơi của Sally – Anne không được diễn tả kỹ. Có lẽ tác giả không muốn câu chuyện của mình bị ôm đồm nhiều vấn đề và quá lan man, nhưng điều đó có thể khiến cho một số độc giả thấy nguồn cơn nỗi căm thù của Sally – Anne không được thuyết phục.

Hi vọng cảm nhận cá nhân của mình trên đây có thể giúp ích được cho các bạn!

Rate: 4,25/5

KATE 💋

“Các loài quý hiếm vùng Trường Sơn” – ấn phẩm có ích không chỉ với trẻ em

Qua hình thức chuyện kể về chuyến thám hiểm của 3 cha con nhà khoa học nhằm khám phá rừng núi Trường Sơn (khu vực giáp ranh giữa Việt Nam và Lào), ấn phẩm giới thiệu khá chi tiết và sinh động, bằng tranh vẽ và thông tin giàu tính khoa học, về nhiều loài động vật đặc hữu của vùng này, trong đó có nhiều loài mà hầu hết chúng ta chưa nghe nói tới bao giờ.

Tại buổi ra mắt sách, từ trái sang: TS Văn Ngọc Thịnh, BTV Đặng Thanh Giang, cô Camille Coudrat và anh Eric Losh. Ảnh: L.Q.V

Cuốn sách in song ngữ Anh – Việt, với sự phối hợp của NXB Thế Giới, góp phần nâng cao hiểu biết của người đọc, trước hết là các thiếu nhi, về kho tàng thế giới hoang dã ở nước ta, và qua đó giúp hình thành ý thức của các em trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và các loài động vật hoang dã.

Camille Coudrat là nhà sinh vật học và nhà bảo tồn thiên nhiên hoang dã người Pháp, đồng thời là nhà sáng lập và Giám đốc Dự án Anoulak (“anoulak” trong tiếng Lào có nghĩa là “bảo tồn”) – một tổ chức phi chính phủ của Pháp. Nhiệt thành góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học của Trường Sơn, khiến cô đã chọn Lào làm quê hương thứ 2. Camille thích một mình dạo quanh rừng rậm trong vùng, cảm nhận vẻ đẹp và sự kỳ diệu của thiên nhiên. Với trái tim của một nghệ sĩ, Camille lên ý tưởng quyển sách này như là sự kết hợp hoàn hảo giữa bảo tồn thiên nhiên và nghệ thuật.

Dự án Anoulak nhằm mục đích bảo tồn dài hạn và nghiên cứu hệ động thực vật và sinh cảnh ở Lào. Một phần đặc biệt quan trọng của dự án là bảo tồn Khu Bảo tồn Quốc gia Nakai-Nam Theun (NNT NPA) – một trong những khối rừng liên tục, rộng lớn và hoang sơ (ít bị xâm lấn) nhất còn sót lại của Trường Sơn và có lẽ cả bán đảo Đông Dương. Nakai-Nam Theun được cộng đồng khoa học nhận định là “vùng đa dạng sinh học then chốt”. Dự án Anoulak cũng nhằm hỗ trợ cộng đồng dân cư địa phương theo hướng phát triển bền vững.

Còn Eric Losh là giám đốc nghệ thuật, họa sĩ và nhà bảo tồn động vật hoang dã người Mỹ, tác giả và họa sĩ minh họa của cuốn sách này. Trong 2 năm, ông kết hợp các kỹ thuật vẽ, màu nước và màu acrylic cùng kỹ thuật số để tạo ra hình ảnh trong sách này, dựa trên các ảnh tư liệu và trí tưởng tượng của mình. Trước đó, ông đã viết và minh họa quyển “Hợp âm của Kibale” – một truyện thiếu nhi về linh trưởng và các động vật rừng nhiệt đới khác của Vườn Quốc gia Kibale (Uganda).

Theo TS Văn Ngọc Thịnh – Giám đốc Quốc gia WWF (Quỹ quốc tế Bảo tồn thiên nhiên) Việt Nam, ấn phẩm này là một thông điệp bảo vệ môi trường. Hy vọng rằng, qua cuốn sách này, các bạn đọc thiếu nhi dù sau này có làm các công việc khác nhau, cũng đồng thời là những nhà bảo vệ môi trường, bảo tồn động vật hoang dã. Trong buổi ra mắt sách, các em thiếu nhi còn tham gia vẽ tranh về đề tài bảo vệ động vật hoang dã. Triển lãm về ấn phẩm này được tiếp tục tại Phố Sách 19/12 ở Hà Nội.

Lê Quang Vinh

Hấp dẫn ‘Tập tục đời người’

“Cụ Thượng viết sách nghiên cứu mà cuốn hút như truyện trinh thám”, kiến trúc sư Đoàn Kỳ Thanh nhận xét về cuốn Tập tục đời người của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng.
Tập tục đời người do NXB Hội Nhà văn và Công ty văn hóa Nhã Nam ấn hành, dày hơn 600 trang. Theo kế hoạch dài hơi của nhà nghiên cứu văn hóa – họa sĩ Phan Cẩm Thượng, đây là cuốn thứ hai trong bộ sách về văn minh VN mà ông muốn viết.
“Văn minh ở đây hiểu là đời sống hằng ngày, ví dụ ăn ở, phong tục tập quán, tôn giáo, di chuyển, gia đình dòng tộc, vùng miền… Bộ sách sẽ có 4 phần về văn minh. Phần 1 là sinh hoạt vật chất, chính là quyển Văn minh vật chất của người Việt (đã xuất bản 2011). Văn minh vật chất là những đồ vật như thuyền bè xe cộ đi lại, giường tủ bàn ghế, nồi niêu xoong chảo. Phần 2 là phong tục tập quán của người nông dân thế kỷ 19 – 20 nói trong quyển này. Phần 3 nói về vùng miền. Phần 4 nói về sự thay đổi xã hội VN hiện đại khi bước vào thế kỷ 19”, ông Thượng cho biết.
“Tôi nói về sự hình thành phong tục”
Ông cũng cho biết đã có nhiều người viết về phong tục tập quán như Phan Kế Bính, Toan Ánh, Nhất Thanh, Nguyễn Văn Huyên. “Thường thì họ làm giống nhau, có bao nhiêu phong tục tập quán thì kể ra. Còn sách của tôi không phải vậy, tôi nói về sự hình thành phong tục. Chẳng hạn, người ta sống ở làng thì sinh ra loại phong tục gì, ở thành phố sinh ra loại gì; rồi nguồn gốc phong tục như thế nào”, ông Thượng nói.
Chẳng hạn, ông mô tả ngôi nhà sàn Mường, Thái phân chia không gian buồng khép kín như ngôi nhà dưới đất của người Việt (Kinh). Người phụ nữ Mường, Thái không cần vào buồng thay quần áo, với chiếc váy kéo dài từ ngực xuống chân, họ được học về cách thay áo quần trong chiếc váy đó. Hoặc ông cũng lý giải tại sao người nông dân VN ăn sáng rất sớm. “Người nông dân mùa hè ra đồng từ rất sớm, để khi 9 hoặc 10 giờ sáng nắng lên chói chang họ đã có thể rút về nhà”, ông viết.

Trong cuốn sách, bên cạnh một số tư liệu trích từ cuốn Kỹ thuật của người An Nam (Henri Oger), ông Thượng cũng vẽ nhiều hình minh họa để người đọc hình dung cụ thể hơn. Để có các hình vẽ, ông Thượng dựa vào phỏng vấn và nghiên cứu các bức tượng.

Lý giải của cá nhân
Nhà văn Nguyên Ngọc thậm chí còn ví cuốn sách như một bộ sử VN. “Một bộ sử VN, nhưng cần nói rõ: không phải lịch sử nước Việt với tư cách một quốc gia, mà là lịch sử người VN trong cuộc sống làm người hằng ngày của họ… Ở đây, ta gặp một cái khác, nhỏ nhoi hơn, thường nhật và gần gũi hơn.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quân thì đánh giá cao văn phong của tác giả: “Song song với việc kế thừa trân trọng những thành tựu và văn bản của hầu hết các học giả tiền bối, Phan Cẩm Thượng sử dụng phương pháp nhân học thực địa hiện đại, xác tín các trải nghiệm cá nhân thực địa bằng hoặc hơn những gì đã được in trong sách, ghi trong sử”.
Ông Thượng cũng chỉ nhờ một người đọc hiệu đính cho sách là ông Phan Bảo. Ông Bảo, theo ông Thượng đánh giá, là họa sĩ nhưng am hiểu về phong tục. “Cái chính khi tôi đọc các cuốn Cơ sở văn hóa VN thì tôi rất thất vọng vì họ nghĩ theo các cách giống nhau. Cái gì cũng bắt đầu từ chính trị, chiến tranh, rồi tam giáo Nho, Lão, Phật. Họ không đề cập gì đến đời sống hằng ngày cả. Cái đấy tôi thực sự là không ưng. Mình lại đi hỏi những người như thế thì cũng không lợi gì. Mình tự làm theo cách của mình. Sai đúng gì thì ai chả sai, đã làm thì phải sai. Đó chỉ là cách lý giải của một cá nhân thôi”, ông Thượng lý giải.
Một bộ sử VN, nhưng cần nói rõ: không phải lịch sử nước Việt với tư cách một quốc gia, mà là lịch sử người VN trong cuộc sống làm người hằng ngày của họ Nhà văn Nguyên Ngọc

Bài được đăng trên báo Thanh Niên.

Chết cho tư tưởng: Cái chết là thành tựu triết học lớn nhất của Socrates – Thanh Huệ

Tuy triết học nghe có vẻ như là một bộ môn cao siêu khó nắm bắt, ta không nhất thiết phải là một triết gia để quan tâm đến triết học: Hầu hết chúng ta đều thực hành triết học trong đời sống hàng ngày. YOLO là một trường phái triết học, tranh cãi về đạo đức trên Facebook là lập luận triết học, ta không thể sống mà không ít nhiều dính dáng đến triết học, bởi triết học là đời sống. Và cũng như cuộc sống của người phàm luôn bị ám ảnh và thúc đẩy bởi bóng ma cái chết, triết học cũng được định hình ở một mức độ đáng ngạc nhiên bởi cái chết của các triết gia.

Cuốn sách Chết cho tư tưởng của Costica Bradatan chỉ ra rằng không hiếm những triết gia bị dồn vào đường chết bởi những tư tưởng của họ, nhưng những cái chết ấy không những không phải là sự chấm hết cho sự nghiệp của họ, mà trái lại, chính là điểm bắt đầu của sự thăng hoa. Socrates chẳng để lại một tác phẩm viết nào, nhưng ông vẫn đặt lên ngai ông tổ của triết học phương Tây, không nhờ gì khác hơn là cái chết đầy thuyết phục. Trước khi chết, Thomas More vừa là một người tôn thờ đức tin của mình đến mức khổ hạnh vừa là kẻ đàn áp dã man đức tin của người khác, và nếu không nhờ bị xử tử thì ông hẳn đã được hậu thế nhớ đến như một người hoàn toàn khác, chứ không phải một vị thánh.

Cái chết, dù của bất cứ ai, cũng gây ra những chấn động trong cộng đồng. Như cái tên ban nhạc đình đám một thời Linkin Park đã lâu nay không còn được nhắc tới, thì đến gần đây, khi ca sĩ chính Chester Bennington qua đời, lại quay trở về làm mưa làm gió. Cái chết của anh truyền đi một thông điệp mạnh mẽ về chứng trầm cảm, không hề thua kém bất cứ thông điệp nào anh gửi đi bằng âm nhạc khi còn sống. Bản thân cái chết của anh là một phát biểu hùng hồn, và điều tương tự cũng không sai với những triết gia đã dành cả đời mình để phát biểu.

Triết gia Socrates, cho dù vĩ đại thế nào trong các phát biểu của ông, cũng không thể là một hình ảnh đứng độc lập, khi mà tất cả những gì hiện hữu của ông bằng văn bản viết đều là ghi chép của các học trò. Khi nghĩ đến Socrates, người ta lập tức nghĩ đến nhân vật Socrates trong tác phẩm của Plato, người học trò xuất sắc nhất của ông. Ảnh hưởng của ông sau khi chết vì vậy vượt xa những ảnh hưởng mà một đời diễn thuyết của ông ở Athens có thể tạo ra, nhất là khi những lời diễn thuyết ấy cũng không cứu ông khỏi cái chết.

Những lời tự biện của Socrates không thể thuyết phục nổi bồi thẩm đoàn, vì dường như toàn bộ dân chúng thành Athens đã mệt mỏi vì lời lẽ của ông. Đến thời điểm này, cách duy nhất để Socrates biểu đạt tư tưởng của mình là phải vượt lên trên mọi từ ngữ. Ông chỉ còn lại thân thể của mình, và bằng cách hiến dâng nó cho cái chết, ông đã truyền đạt được ý nghĩa to lớn nhất của cuộc đời một triết gia. Có thể nói cái chết của ông chính là màn biểu diễn xuất sắc nhất: Cái chết cũng như cuộc sống của Socrates là những điển hình sống động về triết lý của chính ông, nhưng cái chết đã biến ông trở thành một hình mẫu theo cách mà đời sống không thể.

Hình mẫu của Socrates có ảnh hưởng to lớn, bởi ông vừa là hình tượng triết gia đầu tiên vừa là hình tượng triết gia-tử đạo trước nhất. “Chết cho tư tưởng” có thể không phải một rủi ro nghề nghiệp quá thường gặp với triết gia, nhưng nó đã nằm trong cốt lõi của triết học phương Tây, và một triết gia muốn sống đúng với truyền thống triết học thì phải ứng xử như thể việc này có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Cái chết, trong cả vai trò một chủ đề triết luận và một hiện thực triết gia phải đối mặt, khơi gợi nhiều suy tư về chính bản chất của triết học. Cuốn sách Chết cho tư tưởng là một cuộc khám phá lý thú về chủ đề này, khi nó đi sâu vào nhiều khía cạnh của cái chết trong triết học để cuối cùng đem đến suy ngẫm về triết học trong tương quan với cuộc sống.

Thanh Huệ

Tọa đàm: Thờ Mẫu Tứ phủ – Thần điện và nghi lễ

https://i.imgur.com/Kbsnk4w.jpg

Trong đời sống tinh thần của người Việt, niềm tin tâm linh có vai trò vô cùng quan trọng và là biểu hiện sinh động của văn hóa Việt. Tín ngưỡng không chỉ giúp xoa dịu nỗi đau, mất mát và thiệt thòi của số phận mà còn động viên và dẫn dắt mỗi kiếp người không ngừng hướng thiện, vượt khó vươn lên trong cuộc sống. Trong các tín ngưỡng thực hành ở Việt Nam, Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng nội sinh mang bản sắc Việt. Trải bao thăng trầm và có lúc bị cấm thực hành, Tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn âm thầm được giữ gìn và thực hành trong một cộng đồng dân tộc. Ngày nay, tín ngưỡng ấy đã trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt. Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ – Chốn thiêng nơi cõi thực, với việc hệ thống lại một cách khoa học thần điện của Tín ngưỡng và quan trọng hơn cả là nêu ra các nghi lễ thực hành truyền thống trong Tín ngưỡng, sẽ giúp độc giả, dù là người mới nhập môn, cũng có thể tìm và hiểu mạch lạt, rõ ràng về Đạo Mẫu, tín ngưỡng và nét văn hóa đặc sắc của người Việt, vốn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào tháng Mười hai năm 2016.

Nhân dịp ra mắt cuốn sách Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ – Chốn thiêng nơi cõi thực Nhã Nam và L’espace trân trọng tổ chức buổi toạ đàm Thờ Mẫu Tứ phủ – Thần điện và nghi lễ vào:

THỜI GIAN:  09h30 ngày 13.01.2018
ĐỊA ĐIỂM: Hội trường L’Espace


Với sự tham gia của các diễn giả :

– Thạc sĩ Trần Quang Dũng
– Thạc sĩ Lê Khánh Ly


Tọa đàm: Chúng ta là ai giữa dòng chảy này?

Nhân dịp ra mắt tác phẩm “Tôi ngồi đây chờ cơn bão tới” của tác giả Nguyễn Hải Nhật Huy, Nhã Nam và L’Espace trân trọng tổ chức buổi toạ đàm ra mắt sách với chủ đề:

CHÚNG TA LÀ AI GIỮA DÒNG CHẢY NÀY

THỜI GIAN:  18h00 ngày 09/01/2018
ĐỊA ĐIỂM  : Thư viện L’Espace

Với sự tham gia của các diễn giả:

-Tác giả Nguyễn Hải Nhật Huy
– BTV Nguyễn Hoàng Diệu Thủy

“Tôi ngồi đây chờ cơn bão tới” kể về câu chuyện có vẻ hoang đường giữa một gã trai thất nghiệp và một cô gái tâm thần phân liệt nhưng lại đặt ra câu hỏi nhức nhối: chúng ta là ai, và phải sống sao trong một thế giới mà con người ngày càng giống nhau đến kỳ lạ, một thế giới bị chi phối mạnh mẽ bởi truyền thông và Internet, thế giới nơi nhan nhản những thực tại phức tạp đầy ràng buộc: gia đình, bồ bịch, tiền lương, lịch sử của ta, tuổi thơ ta, môi trường ta sống, thành phố của ta, chuyến xe buýt, cột điện, băng ghế đá ta hay ngồi, chủ nghĩa tư bản, các thể loại bạn bè trên Facebook, danh tiếng của ta, và chính cái tôi nằm sâu trong ta. Thế giới mà lâu dần ở đó, những vun vén tưởng là sẽ đem lại bình yên thì lại tích tụ dần trong ta một cơn bão, dữ dằn, cộc cằn, không khoan nhượng, đập phá mọi thứ, khoan thủng ta, tạo ra một cái lỗ hun hút, gió không ngớt lùa qua, khiến ta không thể không tự hỏi : ta thuận theo nó, hay ta chống lại nó, cái cơn bão ấy.
Câu chuyện về người trẻ đô thị được kể bởi giọng văn tưng tửng, bụi bặm, hài hước và độc đáo hiếm có của Nguyễn Hải Nhật Huy.

Tọa đàm: Văn hóa tập tục của người nông dân Việt Nam thế kỷ 19-20

“Tập tục đời người” (Văn hóa tập tục của người nông dân Việt Nam thế kỷ 19-20) là cuốn sách thứ hai trong bộ sách bốn cuốn về lịch sử văn hóa thường ngày của người Việt do nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng biên soạn.

Là sử Việt Nam, nhưng bộ sách không đề cập đến các triều đại hưng suy, các cuộc chiến tranh thắng thua khốc liệt, các biến cố chính trị được coi là trọng đại… mà đề cập đến một vấn đề khác, thường nhật và gần gũi hơn (nhưng lại ít được biết đến hơn): những con người. Những con người Việt Nam.

Nhân dịp ra mắt tác phẩm này, Nhã Nam và L’Espace tổ chức buổi toạ đàm giới thiệu tác phẩm vào lúc 9h30 sáng ngày 06.01.2018  tại Hội trường L’Espace.

Toạ đàm có sự tham gia của các diễn giả :

– Tác giả Phan Cẩm Thượng
– Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức
– Nhà phê bình Mai Anh Tuấn

Chủ nghĩa tư bản có ý thức – Lời giới thiệu

Chủ nghĩa tư bản có ý thức mang đến một kịch bản hấp dẫn về chủ nghĩa tư bản sau mấy trăm năm phát triển,với một tương lai trước mắt đầy rộng mở.

Có bốn nguyên lý mang tính nền tảng của Chủ nghĩa tư bản có ý thức: mục đích cao đẹp hơn, tích hợp các bên có lợi ích liên quan, nền văn hóa và lãnh đạo có ý thức.Đó không chỉ là chiến thuật hay chiến lượcđể phục vụ kinh doanh trước mắt, mà chính là đại diện cho những nhân tố thiết yếu của một triết lý kinh doanh hòa hợp, lâu dài, bền vững, lý tưởng, có thể giúp tất cả các lãnh đạo doanh nghiệp, các doanh nhân khởi nghiệpmột bộ khung cần thiết, đúng lúc để xây dựng và điều hành những doanh nghiệp mạnh mẽ, có ý thức, cân bằng giữa lợi nhuận và đạo đức xã hội, mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại của doanh nghiệp và cuộc đời doanh nhân.

Đây là phần giới thiệu của tác phẩm này:





Kết liễu các tình nhân (Thành kiến chứng thực)

Chương này được trích ra từ cuốn sách NGHỆ THUẬT TƯ DUY RÀNH MẠCH do Nhã Nam xuất bản.

Mọi người đều mắc sai lầm.

Những sai lầm trong việc ra quyết định đều bắt nguồn từ các lỗi tư duy tưởng như đơn giản, nhưng dần dà chúng tích tụ thành những thành kiến khó bỏ. Vậy mà hiếm khi chúng ta nhận ra điều đó, nên sai lầm cứ nối tiếp sai lầm, dẫn đến bao hối tiếc vì những quyết định không đúng cho cuộc đời mình: Cứ mãi đeo bám một công việc dù biết trước chẳng thu được lợi lộc gì; cho rằng một dự án thành công suôn sẻ là do tài năng và trí lực, còn thất bại do ngoại cảnh khách quan; bán cổ phiếu lúc đã quá trễ, hoặc bán quá sớm… Và đó chỉ là một vài trong số hàng loạt các sai lầm “cơ bản” được Dobelli mổ xẻ phân tích qua 99 chương sách ngắn gọn, súc tích với những ví dụ minh họa thiết thực giúp ta có thể nhận diện và né tránh chúng.

Đơn giản, rõ ràng và toàn diện một cách đáng  ngạc nhiên, cuốn cẩm nang nhất định phải có này có thể thay đổi mãi mãi cách ta suy nghĩ, giúp ta quyết định sáng suốt hơn mỗi ngày ở bất cứ đâu,  trong bất cứ tình huống nào.