David Kamp viết về cuốn sách “Nào tối nay ăn gì?”

Giải cấu trúc bữa ăn

DAVID KAMP
New York Times Book Review

Cuộc sống đang trở nên rối ren ở trên đỉnh của chuỗi thức ăn. Đối với hầu hết các loài động vật, ăn uống đơn giản chỉ là vấn đề nhu cầu sinh học: nếu bạn là một chú gấu túi, bạn sẽ tìm lá cây bạch đàn; nếu bạn là một chú chuột sống trên thảo nguyên, bạn sẽ tóp tép nhai cỏ xanh và cỏ ba lá. Nhưng con người, do có bộ não lớn và việc phát minh ra nông nghiệp và công nghiệp, phải đối mặt với một chuỗi những lựa chọn gây hoang mang, từ trứng bác cho tới món gà băm viên, từ bát dâu tây tươi cho tới thanh thực phẩm xốp, ngọt màu vàng, trải qua quá trình hóa dầu phức tạp, được biết đến dưới cái tên Twinkie. “Khi mà bạn có thể ăn bất cứ thứ gì tự nhiên cung câp thì việc quyết định xem mình nên ăn gì ắt sẽ khiến bạn rơi vào trạng thái lo âu,” Michael Pollan đã viết như vậy trong cuốn sách mới sâu sắc và đầy cuốn của mình.

Pollan cho rằng không ở đâu nỗi lo lắng đó lại mạnh mẽ hơn ở Mỹ. Sự thịnh vượng, giàu có, và thực trạng thiếu mất một nên văn hóa ẩm thực lâu đời, vững vàng đã hiệp lực với nhau khiến người Mỹ trở thành những người bị rối loạn ăn uống, bị ám ảnh với việc giảm cân trong khi càng ngày càng béo lên, chao đảo giữa những mẩu kiến thức về chế độ dinh dưỡng có vẻ hợp lý này (bơ thực vật thì tốt hơn bơ động vật chẳng hạn) tới mẩu kiến thức khác (tinh bột gây chết người). Pollan chẩn đoán về một chứng “rối loạn ăn uống cấp quốc gia” và soi chiếu ánh sáng tới cả những nguyên nhân lẫn giải pháp khả thi cho thực trạng này. Để thực hiện được mục đích này, ông đã dấn thân vào bốn cuộc phiêu lưu, luôn xuất phát từ điểm khởi nguồn — tức là từ vùng đất mà những nguyên liệu thô cho các bữa ăn của ông  được nuôi trồng — cho tới điểm kết thúc là một bữa ăn được nấu nướng hoàn chỉnh.

Những bữa ăn này, theo thứ tự, là một bữa ăn nhanh tại cửa hàng McDonald’s mà Pollan ăn cùng vợ và con trai trong xe trong lúc chạy trên một con đường cao tốc ở California; một bữa ăn “Hữu cơ lớn” với những thành phần được mua tại chuỗi cửa hàng bán thực phẩm sạch cao cấp Whole Foods; một bữa tối với thứ thịt gà còn “hơn cả hữu cơ” mà cả món chính lẫn các món ăn kèm đều được cung cấp bởi một trang trại tự lực phi thường ở Virginia, nơi người ta không sử dụng thuốc trừ sâu, kháng sinh hay phân bón tổng hợp; và một bữa tiệc của người “săn bắn-hái lượm” bao gồm hầu hết mọi thành phần mà Pollan đã tự mình kiếm lấy.

Dù tác giả không phải là một giáo sư hay nhà báo tại Berkeley, và vì thế về bản chất là một trí thức tự do quan tâm đến thực phẩm, bạn có thể đoán kịch bản này sẽ diễn ra như thế nào: bữa ăn tại cửa hàng McDonald sẽ được phát hiện là vừa thiếu dinh dưỡng vừa thiếu bền vững về cả kinh tế lẫn môi trường; bữa ăn mua ở Whole Foods tuy đầy đủ dinh dưỡng nhưng lại nhuốm mùi thỏa hiệp với các tập đoàn công nghiệp; bữa ăn từ trang trại ở Virginia thì thơm ngon vô cùng và nâng đỡ tinh thần; còn bữa ăn của người săn bắn-hái lượm sẽ là một bữa tiệc của lòng dũng cảm với món thịt lợn rừng và nấm mồng gà mọc hoang, kèm thêm chút cảm giác tội lỗi và vài lời triết lý về ý nghĩa của việc lấy đi mạng sống của một con lợn.

Nhưng với Pollan, kết quả cuối cùng không quan trọng bằng hành trình từ mảnh đất cho tới bữa ăn. Điểm mạnh của cuốn sách chính là sự tỉ mỉ vô cùng — bạn sẽ chẳng thể tìm được ở đâu khác một sự giải thích kỹ càng hơn về nguồn gốc chính xác của thực phẩm mà bạn đang ăn. Thật ra, một phần tư đầu tiên của cuốn sách được dành để tiết lộ bí mật gây choáng váng về loài thực vật tưởng chừng như hiền lành, vô tội: ngô.

Loài ngô, bất chấp mọi hàm ý về phần tinh túy nằm ở giữa thân cây và lời ca tụng lãng mạn của Rodgers và Hammerstein (“cao ngang mắt một con voi”), đã bị biến thành tay sai của quỷ dữ, không hơn, theo lập luận của Pollan. Những bài viết của ông trên tạp chí New York Times đã phơi bày nhiều con đường khiến cho những chính sách của chính phủ, kể từ thời tổng thống Nixon — nhằm trồng được càng nhiều ngô càng tốt, dựa vào sự trợ giá của chính phủ liên bang — đã trở nên hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu của tự nhiên cũng như của người dân Mỹ.

Những công ty nông nghiệp lớn đã chi phối chính phủ. Lý do khiến những người khổng lồ đó muốn giữ giá ngô rẻ và lượng sản xuất nhiều, theo Pollan, là bởi, hơn hết thảy, họ xem nó như thứ nguyên liệu thô giá rẻ cho sản xuất công nghiệp. Không chỉ bởi nó vỗ béo bò nhanh hơn đồng cỏ (dù cái giá thì chính chúng ta lẫn loài gia súc đó, vốn không tiến hóa để tiêu thụ ngô, phải trả, và vì thế mà kháng sinh được cho ăn trước để bù lại những căng thẳng do chính chế độ ăn trái tự nhiên của chúng gây ra), mà khi đã được xay, tinh chế và pha trộn lại, ngô có thể trở thành bất cứ thứ gì trong các loại sản phẩm từ ethanol cho bình gas cho tới hàng chục sản phẩm ăn được, chưa nói đến giàu dinh dưỡng, như là chất làm đặc, sữa lắc, dàu hyđrô hóa trong bơ thực vật, bột ngô chế biến để gắn kết thứ thịt gà đã được nghiền nhuyễn trong một viên thịt gà McNugget và, tệ hại nhất là, chất làm ngọt có mặt ở khắp nơi được biết đến dưới cái tên xi rô ngô có hàm lượng đường cao (HFCS). Mặc dù mãi tới năm 1980 loại chất làm ngọt này mới có mặt trên thị trường Mỹ, nhưng nó đã âm thầm lẻn đến mọi ngõ ngách của thế giới thực phẩm — trong bữa ăn tại tiệm McDonald của Pollan, HFCS không chỉ có mặt trong lon soda của anh, mà còn trong cả xốt cà chua và cái bánh kẹp nhân thịt bò và pho mát nữa — và Pollan chỉ ra rằng nó là thủ phạm chính gây ra bệnh dịch béo phì trên phạm vi toàn nước Mỹ.

Trên cái phông nền hoài nghi yếm thế và béo phì này, Pollan tìm thấy người hùng của mình ở Joel Salatin, một người nông dân “kiểu khác” ở Virginia vốn chỉ bán các sản phẩm của mình cho khách hàng ở địa phương. Tự nhận mình là một “gã nông dân điên khùng, ủng hộ bảo vệ môi trường, tán thành chủ nghĩa tự do, bảo thủ và theo Công giáo”, Joel đã sắp đặt (hoạt động nông nghiệp theo) nhịp điệu và sự cộng sinh trong tự nhiên một cách tài tình để tạo ra một lượng thực phẩm dồi dào từ hơn một trăm mẫu đất. Ví dụ như, anh cho đàn bò của mình gặm một mảng cỏ trong một hay hai ngày, sau đó thả vài trăm con gà đẻ trứng vào để chúng không chỉ dứt những cọng cỏ đã bị gặm mà còn bới tìm những ấu trùng và giòi từ những đống phân mà lũ bò để lại, nhờ đó mà phân được rải rắc ra cỏ còn động vật ký sinh thì bị diệt trừ. Chế độ ăn giàu đạm như vậy giúp lũ gà đẻ được loại trứng thơm ngon thượng hạng, đồng thời phân của chúng lại cung cấp ni tơ cho đồng cỏ, giúp đồng cỏ hồi sinh sau vài tuần để đón lũ bò trở lại.

Salatin dường như đã khám phá ra những bí mật của một nền nông nghiệp bền vững. Điều gây sửng sốt là anh không muốn trở thành một phần của bất cứ giải pháp nào ở tầm quốc gia. Anh là một người lập dị sống bên ngoài những quy ước của xã hội, ghét chính quyền, giáo dục con tại nhà và tuyên bố với Pollan rằng: “Tại sao chúng ta lại phải có đô thị? Nó có ích gì kia chứ?” Nhưng Pollan, một nhà văn quá đỗi tử tế mà nỗi kính sợ đối với Salatin thể hiện rõ mồn một, đã nhẹ nhàng tha bổng người nông dân đó, nói rằng những lời lẽ khiêu khích của ông ta “khiến tôi nhận thức rõ ràng về hố sâu khác biệt văn hóa và kinh nghiệm giữa tôi và Joel – đồng thời, về cầu nối kiên cố mà mối quan tâm với thực phẩm đôi khi có thể mang lại.”

Nếu tôi có bất cứ lời cảnh báo nào về cuốn “Tối nay ăn gì” thì đó là khuynh hướng quá tử tế của Pollan. Ông không viết với sự phẫn nộ có sức thúc đẩy đã tiếp lửa cho cuốn sách bom tấn của Eric Schlosser – “Fast Food Nation”, cũng khong bám sát các con số như nhà tiên phong Gene Kahn trong cuốn “Big Organic”, một nông dân thời trẻ từng là dân hippie sống ở bang Washington, người đã quyết định rằng cách duy nhất để giữ được công ty của mình, Cascadian Farm, là bán nó cho General Mills. Pollan bình luận với giọng châm biếm rằng Kahn lái một chiếc Lexus đời mới với biển số xe tự chọn đề ORGANIC, nhưng ông gọi Kahn là “một người có đầu óc thực tế, và là một chủ doanh nghiệp phải lo trả lương cho nhân công”. Liệu có phải điều này có nghĩa rằng Kahn đang tìm ra cách để vừa có được vinh hoa phú quý lại vừa thực hiện được sứ mệnh của mình, hay Pollan nghĩ ông ta là một kẻ đạo đức giả?

Tôi cũng mong rằng Pollan cũng dám mạnh dạn đưa ra những giải pháp cụ thể hơn nữa về cách xử lý tình trạng rối loạn ăn uống cấp quốc gia của chúng ta một cách thực tế. Chúng ta không thể sống ngoài các quy ước xã hội giống như Salatin, cũng không thể ước gì cho 200 năm công nghiệp hóa biến mất. Vậy phải làm gì? Liệu ngành công nghiệp hữu cơ đang không ngừng lớn lên đã đi đúng hướng chưa? Hay cần đến hành động cấp tiến hơn nữa? Liệu Bộ Tư pháp có nên chia nhỏ những trang trại nhà máy khổng lồ, đang tàn phá đất đai thành những trang trại hữu cơ đa canh nhỏ, độc lập hay không? Có lẽ sẽ là tham lam nếu đòi hỏi nhiều hơn nữa từ một cuốn sách đã đầy ắp ý tưởng như vậy, nhưng tôi có thể nói gì được chứ? Tôi là một người Mỹ, và tôi vẫn còn đói.

Một thập kỷ sau khi ‘Tối nay ăn gì’, Michael Pollan nhìn thấy những dấu hiệu đáng hy vọng


Trong 10 năm, kể từ khi tôi viết “Tối nay ăn gì?”, nhiều vấn đề về hệ thống thực phẩm của Mỹ đã thay đổi tho chiều hướng tốt lên, nhưng có lẽ sự tiến triển quan trọng nhất – và có tiềm năng là thách thức lớn nhất đối với sự tồn tại lâu dài của hệ thống này — là thực tế rằng câu hỏi trọng tâm trong cuốn sách của tôi đã chuyển thành câu hỏi trọng tâm trong nền văn hóa của chúng ta.

Tôi phải nói thêm ngay rằng đây không phải là do tôi làm. Khi tôi viết cuốn sách này, “Fast Food Nation” của Eric Schlosser và “Food Politics” của Marion Nestle đã giúp khêu gợi sự tò mò của người Mỹ về hệ thống nuôi dưỡng họ. Nhưng, nhìn chung, tất cả các nhà văn có thể thật sự làm là nhấc một ngón tay nhạy cảm trước luồng gió văn hóa nhè nhẹ và cảm nhận được một sự thay đổi thời tiết sắp đến; rất hiếm khi họ thật sự tự mình thay đổi nó. (Hoặc như một người thày của tôi từng giải thích, “Các nhà báo thì rất giỏi với những tầm nhìn ngắn. Vượt quá giới hạn đó thì chẳng ai đọc họ nữa.”) Trên thực tế, trong gần như suốt bốn năm nghiên cứu cho cuốn sách, tôi cảm thấy như thể tôi đã chậm chân cho câu chuyện đó.

Michael Pollan

 

Đừng tử vì đạo nếu bạn muốn sáng tạo (Review Điều kỳ diệu lớn của Thanh Huệ)

Bài gốc đăng tại đây.

Con người là một sinh vật đầy mâu thuẫn. Ta có thể giữ trong đầu quan niệm rằng một nghệ sĩ thực thụ phải là một kẻ sống trong đau đớn quằn quại (từa tựa như Hàn Mặc Tử), mà vẫn tin rằng tạo ra một kiệt tác nghệ thuật để đời là điều duy nhất sẽ khiến ta được hạnh phúc và cuộc sống của ta có ý nghĩa. Suy nghĩ như vậy là cách khởi đầu một cuộc chiến chưa đánh đã thua, và có rất nhiều người yêu thích sự sáng tạo đã mắc kẹt trong cuộc chiến ấy rồi.

Nhưng hãy thử lắng nghe một tác giả sách bán chạy, một người rõ ràng không hề mắc kẹt, nói gì về điều này. Tác giả của một cuốn sách đứng trong bảng xếp hạng sách bán chạy New York Times hơn 200 tuần, đã chuyển thể thành một phim Hollywood đình đám có Julia Roberts thủ vai chính, Elizabeth Gilbert là một nhà văn đủ thành công để hiểu hết các ngõ ngách của công việc sáng tạo. Gilbert cũng sẵn sàng dạy bạn trở thành một người sáng tạo thành công như cô, nhưng trước hết, bạn phải vứt cái ý niệm về người nghệ sĩ đau khổ đi. Cuốn sách mới nhất của cô, Điều Kỳ Diệu Lớn, đã khẳng định như vậy đấy.

Nghĩ lại xem vì sao bạn muốn có một đời sống sáng tạo? Nếu bạn đang theo đuổi tiền tài danh vọng, thì xin chia buồn, đây có lẽ không phải con đường tốt nhất cho bạn đâu. Bạn có thể viện dẫn hàng trăm hàng ngàn nghệ sĩ từ vô danh tiểu tốt đã một bước vụt sáng trên bầu trời danh vọng, nhưng như vậy cũng không khác gì dẫn ra những người đã trúng xổ số. Không có gì đảm bảo trong thành công của họ cả. Elizabeth Gilbert, một người làm nghề viết văn, khẳng định rằng lĩnh vực sáng tạo chỉ toàn những nghề nghiệp tệ hại, nghề nghiệp không thể chu cấp cho bạn về mặt tài chính, thậm chí còn đòi hỏi bạn phải nuôi nó ấy chứ.

Còn nếu bạn muốn sáng tạo đơn giản vì bạn luôn yêu thích nghệ thuật và công việc sáng tạo, thì đây, đây mới chính là mấu chốt. Thực tế là hầu hết những con người sáng tạo đều bắt đầu như thế, vì niềm vui và niềm yêu thích. Tại sao những người vốn vui thích được sáng tạo cuối cùng lại trở thành những kẻ đau khổ dưới bàn tay nghệ thuật?

Vì chúng ta coi trọng mình quá, Gilbert trả lời. Nhưng ta lại thấy mình quá bé nhỏ trước nghệ thuật, những thứ mình sáng tạo ra không đủ kỳ vĩ, nên cái tôi của ta bị đe doạ nghiêm trọng. Ta tin rằng ta yêu nghệ thuật nhưng nó chẳng thèm đáp lại tình cảm của ta, ta sợ rằng ta sẽ chẳng bao giờ sản xuất ra được thứ gì xứng đáng với nghệ thuật, vậy là cái tôi xúi ta bỏ cuộc và trì hoãn việc sản xuất ra bất cứ thứ gì.

Thậm chí không phải chỉ có những kẻ vô danh tiểu tốt mới phải đối mặt với những dằn vặt giằng xé này, mà chính những nhà văn nổi tiếng cũng có lúc phải trải qua đấy. Chẳng phải chính Elizabeth Gilbert cũng là bạn thân của nỗi sợ hãi ư? Chẳng phải đến Harper Lee cũng thừa nhận rằng bà sợ sẽ không bao giờ vượt qua cái bóng quá lớn của Giết con chim nhại ư?

Ảnh: http://thichmuasamonline.com/

Nhưng sự sợ hãi chỉ cản trở và nỗi đau khổ không giúp bạn sáng tạo hơn. Nỗi sợ của Harper Lee không giúp bà viết thêm được gì cho đến cuối đời. Và chắc chắn nỗi đau khổ của người nghệ sĩ không xứng đáng được tôn sùng như nguồn gốc của tài năng, vì số người chiến đấu với chứng trầm cảm mà không cho ra tác phẩm nghệ thuật nào phải hơn hẳn số người trở thành Virginia Woolf hay Vincent van Gogh. Theo lời Raymond Carver, “Đối với bất kỳ nghệ sĩ nào nghiện rượu, thì họ là một nghệ sĩ mặc dù họ bị nghiện rượu, chứ họ không trở thành một nghệ sĩ nhờ vào việc nghiện rượu đó.”

Mặt khác, sao bạn không thể vui vẻ mà sáng tạo? Có lẽ bạn sợ nếu bạn quá vui vẻ khi làm một việc gì thì việc đó không thể được nhìn nhận là nghiêm túc? Có lẽ bạn nghĩ, những điều này có thể có lý với Elizabeth Gilbert, nhưng tác phẩm của tôi chẳng có gì giống Ăn, Cầu nguyện, Yêu cả, nó phải là một kiệt tác về đời sống chính trị xã hội, tất nhiên tôi không thể vui vẻ rồi, tôi phải nghiêm túc!

Vậy thì đây, một tác giả viết về những đề tài nghiêm túc dành cho bạn: Brene Brown, nhà xã hội học, chuyên nghiên cứu về nỗi hổ thẹn và sự yếu đuối. Nhưng cô ấy có nhất thiết phải vật lộn khi viết ra những cuốn sách của mình không? Thực ra là không, cô ấy đã viết sách bằng cách rủ hai người đồng nghiệp đến một căn nhà ven biển, nơi cô kể cho họ nghe về đề tài đang viết, trong khi họ giúp cô ghi chép, bản ghi chép sau đó được cô biến thành một bản thảo và tiếp tục chỉnh sửa khi kể thêm chuyện cho đồng nghiệp ghi chép. Đó là một quá trình đầy ắp tiếng cười, chẳng giống chút nào với hình ảnh một học giả dằn vặt đau khổ trong đơn độc trước bản thảo của mình.

Đây là lúc chúng ta quay lại với điểm mấu chốt: Bạn từng làm việc này vì bạn yêu thích nó. Nếu cuộc sống sáng tạo của bạn còn đau khổ hơn cuộc sống không sáng tạo, thì bạn có lý gì để bám vào nó? Nếu vì sáng tạo mà bạn đau khổ đến chết dần chết mòn thì ý tưởng sáng tạo của bạn sẽ bị chôn vùi, chứ có được lợi lộc gì kia chứ!

Và tất cả những điều này đến từ một tác giả sách bán chạy, người từng thề nguyện từ năm 16 tuổi rằng cô sẽ viết văn mãi cho dù kết quả ra sao và giữ trọn lời thề ấy, người từng làm nhiều công việc để duy trì thu nhập suốt khoảng thời gian cô đều đặn luyện viết mỗi ngày và ngay cả sau khi đã trở thành một nhà văn có sách xuất bản. Việc viết lách của Elizabeth Gilbert không hề dễ dàng và cũng đòi hỏi tính kỷ luật cực kỳ cao, nhưng không có nghĩa là cô thấy cần phải là một kẻ tử vì đạo chiến đấu với cả thế giới để bảo vệ sự nghiệp văn chương của mình.

Ngược lại, cô khuyên bạn hãy tận hưởng niềm vui mà tình yêu giữa bạn và sáng tạo đem đến (bao gồm việc chưng diện để hẹn hò với ý tưởng của bạn khi bạn cảm thấy bế tắc). Đương nhiên trước hết bạn cần phải tin đó là một tình yêu từ hai phía, sáng tạo cũng yêu bạn, và chẳng có lý do gì để đau khổ ở đây cả. Thay vì vật vã và mong rằng mình sẽ giống một nghệ sĩ thực thụ với sự vật vã ấy, sao không đơn giản là tin tưởng và nắm lấy Điều Kỳ Diệu Lớn của bạn?

Thanh Huệ

Ra mắt: Thơ Dương Tường

Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam trân trọng xuất bản tuyển thơ của nhà thơ Dương Tường. Nhân dịp này, xin kính mời Quý độc giả và nhà báo quan tâm đến tham dự buổi trò chuyện ấm cúng để ra mắt cuốn sách, đồng thời mừng sinh nhật thứ 85 của tác giả. Thông tin chi tiết như sau:

Thời gian: 9h30 ngày 12/08/2017 (thứ Bảy)
Địa điểm: Manzi Art Space, 14 Phan Huy Ích, Ba Đình, Hà Nội
Diễn giả:
• Tác giả Dương Tường
• Nhà văn Châu Diên
• Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

VỀ TÁC PHẨM

Dương Tường Thơ là tuyển tập những sáng tác rải rác trong cuộc đời tác giả, được chia làm bốn phần: Tôi đứng về phe nước mắt, Le soir est tout soupirs, At the Vietnam wall và Thơ thị giác. Phụ lục gồm những bài viết của các nhà thơ, nhà phê bình như Hoàng Hưng, Phạm Xuân Nguyên, Trần Trọng Vũ… và một phần Cộng hưởng do dịch giả Phạm Toàn chọn dịch từ những bài thơ của học sinh trường Quốc tế Pháp tại Hà Nội (trường Alexandre Yersin) gửi cho nhà thơ Dương Tường. Với Dương Tường Thơ, một lần nữa Dương Tường lại đưa bạn đọc đi sâu hơn vào thế giới của mình, với hồn thơ “yêu người yêu bạn yêu đời” (Châu Diên) và chất thơ vừa mang phong cách hiện đại của phương Tây vừa vương vấn chút cổ điển phương Đông.

Thơ Dương Tường như đánh đàn trên chữ.Nguyễn Huy Thiệp

Tôi cũng tin rằng, với hay không với ‘thi pháp âm bồi’, nhưng chắc chắn là với giọng điệu riêng, Dương Tường đã cho người yêu thơ những bài thơ mà hiệu quả âm nhạc, tạo hình là một với sức mạnh cảm xúc, tình cảm, ý tưởng, không tách bạch được đâu là ‘âm’, đâu là ‘nghĩa, đâu là hình thức, đâu là ‘nội dung’. Đủ để ghi tên một Dương Tường trong số các nhà thơ đóng góp vào sự phát triển của thơ hiện đại Việt Nam.Hoàng Hưng

Dương Tường là nhà thơ hiếm có mà trong thơ ông những chua chát cuộc đời hóa thân cả vào trữ tình bởi ngôn từ và mọi vẻ dịu ngọt của ngôn từ lại không thể không xót xa, lại hoàn toàn có thể cảm động như mọi xót xa ở đời. Trần Trọng Vũ
VỀ TÁC GIẢ
Dương Tường (tên đầy đủ: Trần Dương Tường)
Sinh ngày 4/8/1932 tại thành phố Nam Định
Tham gia cách mạng năm 1945 tại Vĩnh Yên
Thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, từ 1949 đến 1955: tham gia quân đội, cán sự văn nghệ Trung đoàn 66, sư đoàn 304
Bắt đầu làm thơ từ 1952
Bắt đầu dịch sách từ 1961. Đã dịch khoảng trên 50 tác phẩm
Đã xuất bản 4 tập thơ (trong đó có 2 tập in chung)

KỂ XONG RỒI ĐI: TIẾNG THỞ DÀI MAN MÁC

Từ nhiều năm nay, trong giới những người yêu văn chương, Nguyễn Bình Phương đã trở thành nhà văn đáng đón đợi nhất. Tôi cũng đã chờ đợi mấy năm để có trong tay bản thảo này của anh, và vui sướng được là một người đọc đầu tiên.

Nếu như “Thoạt kỳ thủy” là cuốn tiểu thuyết đưa người ta vào cõi những kẻ điên, “Những đứa trẻ chết già” viết về thế giới những linh hồn, “Người đi vắng” khám phá nội tâm của những kẻ lạc hồn, “Mình và họ” chiêm nghiệm về bạo lực (*) thì ở KỂ XONG RỒI ĐI, cuốn tiểu thuyết mới của Nguyễn Bình Phương, chiêm nghiệm về CÁI CHẾT. Nguyễn Bình Phương là nhà văn luôn hứng thú khám phá phần âm của cuộc sống con người, cái phần âm u tối bí ẩn nhưng mênh mang hun hút, đầy quyền lực, và đấy là lý do mà chúng ta bằng cách này hay cách khác, lờ tịt, trốn tránh hoặc phủ nhận nó.

1.
Kể xong rồi đi chọn nhân vật chính của nó là CÁI CHẾT. Nhìn cuộc sống từ góc độ cái chết, cuốn tiểu thuyết trưng bày một bức tranh đầy đủ hơn về cõi nhân quần bề bộn, cho thấy cái chết ở gần ta hơn ta tưởng, tham dự vào bàn tiệc cuộc sống nhiều hơn ta nghĩ. Có thể tìm thấy trong đó nhiều chuyến đi của những con người và số phận khác nhau, thấp hèn hay vinh quang, nhẹ nhàng hay khốc liệt, ngẫu nhiên hay tất nhiên, nhưng tất cả đều cùng một điểm đến, và tất cả đều làm sáng rõ hơn dáng hình của cái chết: vừa giản dị, vừa vừa quyền lực, vừa kinh dị và lại vừa mang vẻ đẹp siêu phàm. (Thật tình cờ là vào thời điểm này tôi cũng đang đọc cuốn Chết cho tư tưởng của Costica Bradatan. Cuốn sách đã cho tôi nhiều ý tưởng để hiểu Nguyễn Bình Phương).

Câu chuyện xoay quanh cái chết của một ông Đại tá về hưu. Đầu tác phẩm ông ta bị đột quỵ và ở cuối tác phẩm thì chết/hoặc sắp chết. Qúa trình từ lúc Đại tá bị bệnh nằm viện cho đến khi được đưa trở về nhà là hành xử, tâm trạng của đám con cái của ông. Toàn bộ câu chuyện lại được kể lại qua “thằng hâm hấp, thằng cháu bồ côi bồ cút mắt lác” của Đại tá. Nhưng đừng tưởng cậu ta kể với chúng ta, vì chắc gì chúng ta, những kẻ đang quay cuồng vì sống, đã lắng nghe – cậu ta kể với một con chó. Là người cháu mồ côi được Đại tá mang về nuôi, cậu ta có mặt trong gia đình đó ở vị trí của kẻ ăn nhờ ở đậu, không có tiếng nói, cậu ta vừa là người tham dự lại vừa là kẻ đứng ngoài.

Tất cả chúng ta đều có cảm giác xa lạ với cái chết, chúng ta chứng kiến những cái chết của người khác với đầy thương cảm nhưng lại tự nhủ “không liên quan gì tới tôi”. Nhưng gã trai mắt lác trong cuốn tiểu thuyết như đang thực hành một lối sống khác: anh ta luôn dành chỗ cho cái chết trong câu chuyện của mình. Trong khi kể chuyện về đám con cái Đại tá, dòng suy nghĩ của cậu ta thường tạt ngang tạt ngửa, và mỗi khi có nhân vật, sự kiện nào xuất hiện trong dòng chảy đó thì luôn kèm theo cái chết: 64 tù binh bị “giải quyết”, 4 tay lính dù bị bắn trong ngôi miếu cổ, 1 tiểu đội trúng bom khi đang xả thịt một con nai, mẹ và em gái Phong chết cháy, gã Rồ chết mẹ chết vợ chết em, ông Khang, bà Ngải, ông Trinh tên lửa, chú Khoa, thằng Tuấn, anh Việt, con gái ông Lũy… Người ta chết theo đủ cách khác nhau: chết vì chiến tranh, chết vì hận thù, chết vì ngu xuẩn, chết vì tai nạn, tự tử, chết trôi chết cháy, chết đường chết chợ, chết bất đắc kỳ tử… Và ông Đại tá, con người cương cường hào sảng, thì chết già. Gã trai đặt cái chết lên bàn tiệc ê hề của sự sống, nhắc chúng ta rằng nó luôn ở đó, và nó có thể đến với bất cứ ai trong chúng ta. Và vì thế mà cậu ta tuyệt đối cô đơn.

Cậu ta thậm chí có giao cảm với cái chết. Cậu ta luôn nghe thấy tiếng kẽo kẹt rờn rợn của chiếc xe vẽ rồng đến đón người chết. Cậu ta nghe thấy tiếng ai đó đòi “triệu” người trong ngôi miếu cổ, cậu ta mê lửa – thứ sức mạnh hủy diệt và lúc nào cũng muốn được bốc cháy.

Cậu ta thậm chí nhìn đời sống qua lăng kính của cái chết:

“Xem ra bà Lan ngạc nhiên ghê gớm vì mắt mở to hết cỡ, miệng há ra, vươn cổ về phía tớ. Khi tớ nói xong thì đã thấy hai tay bà ấy nối nhau vuốt ve mái tóc của mình từ lúc nào. Hai bàn tay thành hai cái lược, hai cái lược sừng loang lổ, cứ cào lên cào xuống cần mẫn trên mái tóc bạc man dại, tang tóc.”

Cậu ta kể chuyện cắt tiết gà, thản nhiên, nhẩn nha mà ghê rợn:

“Tớ bẻ ngược đầu nó ra sau, dùng dao cứa nhanh một vết từ mang tai xuống vòm cổ, nơi đã bị tớ vặt hết lông và đang ửng lên vì tụ máu. Tớ cảm nhận sức nóng rực của nó dưới tay tớ, cả những cơn co giật ấm ức cuồng loạn. Tiết trào ra, ấm, rạo rực. Tớ nhấc cao chân nó lên để đầu nó chúc xuống cho tiết chảy thẳng vào cái bát tô hứng bên dưới. Một dòng đỏ, một sợi dây đỏ trong vắt, tươi tắn.”

2.
Nhưng đám con cái của Đại tá thì khác, họ quan tâm đến những vấn đề thiết thân hơn, chuyện thăng tiến, chuyện mua bán đất đai, chuyện tương lai con cái, và chuyện chôn ông bố:

“Chôn là chôn, không một hai gì nữa. Vấn đề chỉ còn bàn là bàn chuyện chôn ở đâu để phát nhanh nhất, thế thôi. (…), nếu được phù hộ thì chắc chắn anh em mình không chỉ thế này.”

Tình cảnh khiến tôi nhớ đến truyện ngắn Gia đình của Nguyễn Huy Thiệp. Thảnh, anh con trưởng, làm tôi nghĩ đến Cấn, tính cách lưu manh, cơ hội: “Điên à. Cả đời biền biệt vác súng đi đánh nhau, chả giúp được gì cho gia đình này, giờ đến lúc phải cống hiến một tí chứ. Hỏa táng thì lấy ai phù hộ cho bọn trẻ con?” Khuất gợi nhớ đến Đoài – mưu mẹo: “Gõ đúng cách thì cửa giời cũng mở.” Hoành hao hao Khiêm – cục cằn: “Anh em mình sống trong thời xú uế, lết được đến đây là phúc bảy mươi đời rồi, thành con đéo gì mà chả được.”

Nhưng nếu câu chuyện nổi bật lên trong truyện Nguyễn Huy Thiệp là “Ai đồng ý bố chết giơ tay”, phản ánh xã hội đổi mới với sự lên ngôi của đồng tiền và sự suy đồi đạo đức, các quan hệ đều quy về hai chữ lợi ích, thì ở Kể xong rồi đi vấn đề là “không chỉ thế này”, tức là nhiều tiền hơn nữa. Nhưng sâu xa hơn, vấn đề dường như còn là sự hư vô trống rỗng mà chính họ không nhìn ra. Họ cùng bỏ tiền cho ông cụ nằm viện đàng hoàng, nhưng chăm sóc ông với sự dửng dưng, dường như không có một sợi dây tình cảm nào, sự hiểu biết nào về người đang nằm lịm trên giường bệnh kia. Giữa họ với nhau cũng là những đứt gãy. Và sâu thẳm trong lòng họ là một nỗi bất an, thấp thỏm nào đó không nói được ra lời.

Và đấy phải chăng là cái thời “xú uế” mà Hoành ám chỉ? Vậy cái thời nào mới là không xú uế? Thời của Đại tá, với các huân chương chiến công? Thời của đứa con gái mà Hoành “may mà” đã “lẳng” được sang Úc du học, với các giá trị ngoại?

3.
Cái chết tiến đến với Đại tá, chậm rãi, nhẩn nha, nhưng không khoan nhượng. Và hơi lạnh nó tỏa ra xung quanh khiến những cái đầu đang phát sốt vì dục vọng bỗng dưng chùng lại. Sự hủy hoại dần dần của Đại tá là một sự làm nhục khủng khiếp đối với đám con cháu nói riêng, và với con người nói chung: nó chỉ ra một sự thật bẽ bàng rằng cuộc sống là hữu hạn, và rằng tất cả những nỗ lực để trở nên giàu có thành công hay khác biệt đều trở thành vô nghĩa. Bởi vậy những giây phút mọi người ngồi quây lại với nhau bên cái thâm thể lìm lịm, tất cả bỗng trở nên lặng lẽ kính cẩn, đón đợi từng bước chân của cái chết: “Này, lạ chưa kìa, chẳng ai bảo ai, tự nhiên mọi người cứ thế lẳng lặng ngồi quây lại với nhau.” Nguyễn Bình Phương không chỉ chỉ ra quyền năng của cái chết, anh còn gợi ra điều này: Vẻ đẹp của cái chết.

Kể xong rồi đi không đơn giản là chuyện Phong kể về Đại tá, đến lúc Đại tá chết thì hết chuyện, và cậu ta không còn lý do gì để ở lại căn nhà đó nữa. Với tất cả những vang động ở đây, tôi nhìn thấy một ám dụ: mỗi con người xuất hiện trong cuộc đời này, là để kể câu chuyện của mình, và kể xong thì đi, theo những cách khác nhau do sắp xếp bí mật hoặc ngẫu nhiên của định mệnh. Trịnh Công Sơn cũng từng diễn đạt ý này trong một câu nói nổi tiếng: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”

Đọc cuốn tiểu thuyết này, tôi có một cảm giác sâu sắc là Nguyễn Bình Phương đang suy nghĩ về cái chết của chính mình.

Chiêm nghiệm về một điều cốt tử của đời sống con người, câu chuyện thấp thoáng bóng dáng của một triết gia. Lắng nghe, ta sẽ không khỏi băn khoăn về vế còn lại: Vậy thì sống có nghĩa gì?

Vẫn như mọi lần, tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có một cấu trúc chắc chắn. Và anh kiểm soát đến từng con chữ. Những câu thoại sắc gọn đắt giá. Những miêu tả kiệm lời nhưng vào đúng trọng tâm.

Với tôi, cuốn tiểu thuyết không để lại cảm giác nặng nề. Nó như một tiếng thở dài man mác, “vừa uể oải, vừa như rất hài lòng, lại vừa như cho xong đi.” “Triệu thời về”, vậy thôi. Đây không phải là cuốn tiểu thuyết tôi thích nhất của Nguyễn Bình Phương, nhưng chắc chắn là cuốn tiểu thuyết tôi không thể bỏ lỡ.

* Về mỹ cảm bạo lực, xin đọc bài “Đọc Mình và họ của Nguyễn Bình Phương”, in trong tập phê bình “Đọc tôi bên bến lạ” của Đoàn Cầm Thi – do Diệu Thủy biên tập.

Review: CHUYỆN CON MÈO DẠY HẢI ÂU BAY (Lê Thành Nhân)

Một tác phẩm không quá xuất sắc về văn phong, không quá cao siêu trong thủ pháp nghệ thuật, không quá độc đáo trong tạo dựng tính cách nhân vật và cũng không quá mới mẻ trong thông điệp muốn gửi tới con người. Vậy thì điều gì làm tôi yêu thích tác phẩm nho nhỏ này? Câu trả lời cũng bình thường thôi: nó có một chút ý vị, hài hước trong văn phong; nó có sự trau chuốt về thủ pháp nghệ thuật kể chuyện; nó có những nhân vật khiến tôi nhớ và thích; và nó truyền những thông điệp không mới nhưng chưa bao giờ cũ!

Tôi không chỉ xem nó như một tác phẩm cho trẻ em mà tôi tìm thấy trong đó những mối quan tâm có tính thời đại, những điều mà cả nhân loại đang đối mặt. Đó là: sự hủy hoại môi trường thiên nhiên do những hoạt động kinh tế của con người; mâu thuẫn sinh ra bởi sự ngăn cách về tư tưởng, ngôn ngữ và quyền lợi. Nhưng điều tôi tâm đắc nhất trong tác phẩm này là: việc giữ lời hứa, tình yêu thương và tự do tính của mỗi nhân vị! Đây là quyển sách với những suy tư nặng trĩu của triết gia nhưng được kể bằng trí tưởng tượng bay bổng của một nhà văn.

***

Sức mạnh của những lời hứa.

“Tôi xin hứa rằng tôi sẽ không ăn quả trứng!”
“Tôi xin hứa rằng tôi sẽ chăm lo cho quả trứng đến khi con chim non ra đời.”
“Tôi hứa là sẽ dạy nó bay…”

Ba lời hứa của chú mèo Zorba trước khi cô chim hải âu qua đời làm tôi suy nghĩ rất nhiều về giá trị của lời hứa. Zorba có quyền không nhận lời, nhất là điều đó có vẻ bất khả thi với một con mèo – cho dù là một con mèo hết sức tử tế đi nữa. Zorba đã nhận lời không phải chỉ là do cô chim hải âu sắp chết mà vì chú thấy mình phải có tính trách nhiệm và sự cam kết với cộng đồng sinh vật. Khi chúng ta sinh ra trên đời, chúng ta đã mặc nhiên ký một cam kết trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Có rất nhiều tranh cãi, những người theo chủ nghĩa tự do phản đối và xem ta chẳng có trách nhiệm nào ngoài chính trách nhiệm với bản thân. Những phản đối đó được rất nhiều vị tài ba khác phản bác lại rằng: sự cam kết trách nhiệm với cộng đồng xã hội không biến ta thành một sinh vật mất tự do mà khiến ta thành một con người tự do! Zorba đã chọn lựa cho mình sự đảm trách đối với lời cam kết với xã hội dù biết một chặng đường gian nan phía trước đang chờ đợi mình.

Bạn nên nhận biết rằng: lời hứa không đơn thuần là những cam kết giữa những cá nhân, mỗi con người đều mang trong mình giá trị chung nhất đó là giá trị của nhân loại, tôn trọng con người là tôn trọng nhân loại, tôn trọng lời hứa với một người là sự tôn trọng cam kết nghĩa vụ với nhân loại.

***

Bài học về tình yêu thương

Tình yêu thương tràn ngập trong tác phẩm này, đây là một trong những lý do tôi yêu thích nó. Tình yêu thương được diễn tả ở rất nhiều dạng thức và bằng nhiều cung bậc khiến tôi say mê và cảm thấy hạnh phúc.

Tình yêu thương mà cậu chủ nhỏ dành cho chú mèo Zorba. Tình yêu thương là quà tặng mà Thượng đế (không phải chỉ bất kỳ thần thánh nào) dành cho tất cả sinh linh trên hành tinh này.

Tình yêu thương cuộc sống khi cô hải âu vươn cánh lần cuối lướt gió biển hướng về ánh mặt trời. Một cảnh tượng đẹp đẽ, choáng ngợp và bi thảm.Yêu thương và trân quý mỗi phút giây ta sống trên cõi đời này.

Tình yêu thương mẹ – con. Cảm động làm sao đến lúc nguy cấp cô hải âu vẫn ráng sức đẻ được quả trứng, giành lấy sự sống cho con mình dù biết nỗ lực đó sẽ giết chết mình. Cảm động làm sao tình yêu thương, chăm sóc mà đám mèo dành cho Lucky. Đặc biệt là của Zorba dành cho Lucky – một tình yêu mẹ – con thật sự dù rằng là giữa một con mèo đực với một chú hải âu!

“…chúng ta yêu con bởi vì con là một con hải âu…Chúng ta yêu con như yêu một con hải âu…Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương một kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thực sự rất khó khăn, và con đã giúp chúng ta làm được điều đó…”

Một tình yêu vô vị lợi, yêu thương bởi ta chính là ta chứ không phải vì cái gì khác. Yêu thương sự khác biệt là một bài học chúng ta phải học giúp trái tim luôn rộng mở để tiếp nhận tất cả. Thế giới sẽ tốt đẹp biết chừng nào khi tình yêu thương nẩy nở và tràn ngập nơi nơi. Chỉ có tình yêu thương mới phủ lấp được tất cả những hố sâu ngăn cách của sự khác biệt và mâu thuẫn, xoa dịu những nỗi đau và khiến cuộc sống thăng hoa.

***

Giá trị của tự do

Tự do vốn nằm sẵn trong ta, ta sinh ra đã mang giá trị hoàn bị của một con người lý trí và vì thế phải được tôn trọng và tự do như một com người có lý trí. Kant cho là thế và tôi đồng ý với Kant. Thông điệp về tự do được tác giả lồng ghép trong một hình ảnh đầy ẩn dụ: nhà thơ giúp cho chú hải âu bay! Chú mèo Zorba thấy được sự tự do trong những vần thơ và nhà thơ cũng thấy được sự tự do trong những làn mưa bão nâng cánh cô hải âu bé nhỏ Lucky.

Chúng ta tìm kiếm sự tự do ở đâu đâu nhưng đâu cần tìm kiếm. Nó ở chính trong ta, chỉ cần ta thầy được nó, nâng niu nó thì nó sẽ nâng ta lên bằng đôi cánh tự do phiêu lãng.

Một con người tự do không nhất thiết phải “vẫy vùng chốn giang hồ” – đó không phải là tự do thật sự, đó chỉ là hình thức của tự do. Tự do đến từ bên trong, tự do của một con người có lý trí biết được chính mình là ai, biết mình sẽ trở thành gì và sống để làm gì. Cuộc sống của ta được ta chọn lựa và can đảm thực hiện lúc đó ta là một người tự do thật sự.

“Con đang bay! Má Zorba! Con biết bay rồi!” Con hải âu la lên ngây ngất từ bầu trời xám xịt bao la…”

Một hình ảnh tuyệt đẹp khép lại câu chuyện, bé con ngày nào đã trở thành một cô hải âu trưởng thành vươn đôi cánh vững chãi hướng về phía bầu trời xám xịt.

Con đường phía trước dành cho con người tự do không bằng phẳng và dễ dàng, tuy thế nó đầy sự thú vị và sảng khoái của tự do tuyệt đối!

Review: NAM TƯỚC TRÊN CÂY (Pháp Sư)

Vì sao tôi yêu mến vị Nam tước gần như cả cuộc đời sống trên những cái cây của xứ BóngRâm?

Đó là vì tôi gặp ở nhân vật những gì tôi còn thiếu và tôi mong ước. Sự chính trực, nói là làm, bản tính tự do táo bạo, trái tim tràn đầy tình yêu và lòng lương thiện cùng những ý muốn tốt đẹp cho mọi người, trong khi vẫn nuôi dưỡng một thái độ cách biệt vừa phải với đồng loại để tự có cho mình một thế giới riêng. Nói như Calvino, khoảng cách với đồng loại ấy là “tối thiểu mà không thể vi phạm”. Quan trọng nhất, trong khi sống cho mình, vẫy vùng cho thỏa khát vọng tự do và tình yêu thiên nhiên, Cosimo vẫn sống một cuộc đời có ích. Anh làm nhiều thứ cho những người xung quanh, anh đóng góp cho cộng đồng của mình và rộng lớn hơn thế là thời đại của mình, những điều thật tuyệt vời nhờ vào tài trí và bản lĩnh hơn người. Cosimo khiến tất cả chúng ta phải ngỡ ngàng trước những điều mà một con người có ước mơ và lí tưởng có thể làm được.

Lí tưởng ấy có thể xuất phát từ một giây phút bột phát của tuổi niên thiếu, và như vị Nam tước nói, anh cũng “không biết giải thích cho chính mình” (tr.355). Nhưng điều quan trọng là anh đã có nó và suốt đời anh cố gắng sống theo đó, buộc mình vào lời hứa sẽ không bao giờ đặt chân xuống mặt đất. Ước vọng lớn lao sẽ là ngọn đèn chỉ đường và là cội nguồn sức mạnh.

Cuộc sống trên cây của Cosimo có thể coi là một ẩn dụ về sự giải thoát, giải thoát khỏi bốn bức tường vây kín, giải thoát khỏi một thái độ sống ẩn núp, cúi mặt; thay vào đó là cuộc sống tự do, tràn đầy cảm hứng và sáng tạo cùng thái độ đường hoàng hiên ngang: “Ở trên cao thì lộ rõ, tứ phía đều thấy” (tr.309). Nói như lời giới thiệu ở bìa 4, cuốn Nam tước trên cây đã diễn tả thanh thoát và hài hước một luận đề triết học hiểm hóc: con người có thể đạt đến mức độ nhẹ nhõm như thế nào trong cuộc đời.

Thế nhưng, chọn cuộc sống trên cây, Cosimo không có ý định tách biệt mình với đồng loại nhằm đạt tới một sự cao siêu không thể sánh nổi. Khi trung úy Cánh Bướm gọi Cosimo là “một người-chim, một đứa con của Nữ quái mình cánh chim”, “một sinh thể của thần thoại”, anh đã đáp lại một cách khảng khái và hài hước “Tôi là công dân Rondo, đứa con của loài người, công dân chỉ huy trưởng ạ! Tôi đảm bảo với ông, từ phía cha lẫn phía mẹ.” Anh đã cố gắng để khẳng định mình luôn có thể sống tốt dù ở đâu, quả như vậy, anh luôn nỗ lực và sáng tạo hết khả năng. Cái cách mà Cosimo xây dựng cuộc sống của mình ở vương quốc các loài cây thực ra chẳng có gì khác cách những con người ở dưới mặt đất thu xếp cuộc sống của họ. Cũng nhọc nhằn, lâu dài và đòi hỏi nhiều trăn trở không kém. Qua quá trình ấy, thấy toát lên triết lý về sức mạnh của tinh thần con người trong công cuộc chinh phục tự nhiên, khiến cho tự nhiên trở nên hữu ích, có thể phục vụ mình.

Điều đáng nói là, cuộc sống của Cosimo không hề nhẹ nhàng, vô ưu mà cũng tràn đầy trăn trở và vui buồn như tất cả mọi người. Có tình yêu, nỗi đau buồn, thậm chí cả sự điên loạn khi xảy ra điều bất như ý. Tất cả đều tự nhiên và mãnh liệt tột cùng. Tạm gác lại ý nghĩa triết lý, tính chất của một luận đề, người ta có thể cảm nhận thấy ở đây, thật đơn giản, một câu chuyện mà tác giả đã đặt một cuộc sống bình thường với đầy đủ sự kiện và cảm xúc lên trên những cành cây như một thử thách, để xem nó biến đổi kì thú như thế nào, có gì khác so với khi ở dưới mặt đất.

Và như vậy, cuốn truyện đem đến một trải nghiệm chân thật, cùng rất nhiều hứng thú và niềm vui. Trẻ con cũng có thể đọc “Nam tước trên cây” và tìm thấy những điều khiến mình thích thú. Người lớn đọc nó lại đôi khi cảm thấy tâm hồn thanh thoát, bay bổng và vui vẻ hơn, tựa như được trở về với tuổi thơ.

Văn chương đến với đời, có khi chỉ giản dị là một nguồn vui như thế.

Review: HỘI HÈ MIÊN MAN (Duy Đoàn)

Ernest Hemingway (1899-1961), đoạt giải Nobel Văn chương năm 1954, là một trong những nhà văn vĩ đại của văn chương Mĩ nói riêng và văn chương thế giới nói chung. Ông có một cuộc đời trai trẻ sôi động, từng tham gia cả hai cuộc chiến tranh thế giới và cả nội chiến Tây-ban-nha, và đi lang bạt đây đó ở châu Âu những năm 1920. Tuổi trẻ của Hemingway rất phong phú và hào sảng, trong đó đặc biệt nhất là khoảng thời gian ông sống tại Paris cùng với người vợ đầu của mình, Hadley. Cuốn sách “Hội hè miên man” của Hemingway chính là hồi ức của ông về những năm tháng tận hưởng cái không khí và phong thái của kinh đô nước Pháp, một cuốn sách mà mãi đến sau này khi Hemingway qua đời thì người ta mới phát hiện ra. Toàn bộ cuốn sách như những nét phác thảo sơ lược chứ không phải là một biên niên kí, nên độc giả sẽ không biết được toàn bộ đời sống của ông tại Paris thời điểm đó. Có hai mươi phần nhỏ trong cuốn sách, hầu hết các phần độc lập với nhau, mỗi phần là một trải nghiệm ngắn ngủi, một cái nhìn lướt qua về một khía cạnh nào đó, và tất cả đều góp phần tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về cuộc sống thời trẻ của Hemingway ở Paris.

Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân, thì cho dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man. ERNEST HEMINGWAY, thư cho một người bạn, 1950.

Hemingway tới Paris cùng với Hadley vào tháng 12/1921, và nhờ vào những lá thư giới thiệu của Sherwood Anderson (một nhà văn Mĩ nổi tiếng lúc bấy giờ) mà Hemingway sớm quen biết được với những nhân vật lừng lẫy của văn chương Mĩ thời bấy giờ như Gertrude Stein, Ezra Pound và Sylvia Beach (người chủ một tiệm sách nhỏ ở Paris mang tên Shakespeare and Company, nơi lui tới của nhiều văn sĩ trong đó có cả James Joyce, và đó cũng là nơi đỡ đầu xuất bản kiệt tác của James Joyce, cuốn Ulysses). Sau đó ông còn gặp được những văn sĩ thiên tài khác như James Joyce, T.S. Eliot, Scott Fitzgerald, v.v.. Qua những mảng hồi ức của Hemingway, có thể thấy một Paris sinh động, dập dìu những văn nhân, nghệ sĩ trong những cuộc vui, những cuộc trò chuyện về cuộc sống, về văn chương, nghệ thuật. Dường như Paris đóng một vai trò vô cùng thiết yếu trong nền học vấn của Hemingway, khi tại đây ông học hỏi được rất nhiều từ hai người bạn, cũng là hai bậc tiền bối của mình: Gertrude Stein và Ezra Pound. Họ là những người đưa ra những phê bình hữu ích, chỉ dẫn Hemingway nhiều thứ trong cuộc sống viết lách. Rồi cũng tại Paris, ông có thể đọc sách thoải mái nhờ mượn sách từ tiệm Shakespeare and Company của Sylvia Beach, để từ đó hấp thu được ngôn ngữ của nền văn chương hiện đại. Thuở đó Hemingway say mê văn chương Nga với những Turgenev, Gogol, Tolstoy, Dostoyevsky, Chekhov:

“…Hồi còn ở Toronto, trước khi chúng tôi đi Paris, người ta bảo Katherine Mansfield là người viết truyện ngắn giỏi, thậm chí là một nhà văn viết truyện ngắn vĩ đại, nhưng sau khi đã đọc Chekhov thì cố gắng đọc truyện của bà chẳng khác nào ngồi nghe bà vú già kể một câu chuyện sượng sạo có lớp lang sau khi nghe chuyện do một ông bác sĩ thông thái khúc chiết kiêm một nhà văn giản dị tài ba kể. Mansfield là một thứ gì đó gần như là bia. Mà thế thì thà uống nước lọc còn hơn. Trong khi Chekhov không phải là nước, ngoại trừ sự trong trẻo. Có một vài truyện như thể loại báo chí. Nhưng có những truyện thật quá tuyệt vời.

Ở Dostoyevsky có những thứ tin được và không tin được, nhưng có những thứ quá thật đến nỗi khi đọc chúng con người ta thay đổi; ở đó có sự mong manh và điên rồ, sự đồi bại và thánh thiện cùng những cơn say bạc điên loạn, cũng như với Turgenev là phong cảnh và những con đường, hay với Tolstoi là những cuộc chuyển quân, địa thế địa hình, sĩ quan lính lác và những cuộc chiến. Tolstoi khiến những trang viết của Stephen Crane về Nội chiến chỉ là trò tưởng tượng phong phú của một đứa trẻ ốm yếu chỉ biết đến chiến tranh qua sách vở hay qua những tấm ảnh chụp của Brady mà tôi từng thấy trong nhà ông bà tôi ngày trước…”

Thập niên 1920 là thời kì mà người Pháp gọi là les années folles (những năm tháng điên rồ). Thời đó Paris như là thủ phủ của chủ nghĩa hiện đại, nhiều dòng chảy từ nghệ thuật, âm nhạc đến văn chương đều tập trung và nảy nở tại kinh thành ánh sáng này – từ Picasso, Duchamp, đến Stravinsky, Poulenc và Satie, từ Breton, Proust, Stein đến Joyce. Sống trong những năm tháng buông thả và tràn đầy nhiệt huyết, giữa sách vở và nghệ thuật, thật sự là một sự may mắn, là một kho báu vô giá. Như Hemingway cũng đã thừa nhận như vậy trong cuốn “Hội hè miên man” này: “Việc ta được hoà mình vào một thế giới văn chương hoàn toàn mới lạ và có thời gian đọc sách trong một thành phố như Paris, nơi có thể sống và làm việc thoải mái bất kể giàu nghèo thế nào, chẳng khác gì được ban cho kho báu tuyệt với.”

Đọc “Hội hè miên man”, ta thấy một Gertrude Stein có sức ảnh hưởng đến Hemingway thế nào, nhưng cũng chính Stein đã góp phần khiến ông “không bao giờ tìm lại được một tình bạn đúng nghĩa nữa, kể cả trong tim lẫn trong đầu”. Rồi qua những mảnh hồi ức của Hemingway, ta thấy được một người bạn, đồng thời là một nhà văn mà Hemingway rất nể phục: Ezra Pound. “Ezra Pound bao giờ cũng là một người bạn tốt và luôn giúp đỡ người khác.” Chính Pound và tổ chức Bel Esprit của mình đã đứng ra quyên tiền để giải cứu T. S. Eliot khỏi ngân hàng để ông này có thể tiếp tục trên con đường thi ca. Nhưng có một nhân vật đặc biệt, mà Hemingway đã dành ra ba phần trong tổng số hai mươi phần để viết về người này, đó là Scott Fitzgerald:

“Tài năng của ông tự nhiên như hoa văn bụi phấn trên cánh bướm. Đã có lúc ông cũng như bướm, không biết lúc nào hoa phấn sẽ bay đi hay tàn tạ. Sau này, ông ý thức hơn về đôi cánh bị tổn thương của mình và cấu trúc của chúng, ông biết suy nghĩ hơn, nhưng bao giờ được nữa vì niềm say mê bay lượn đã cạn, và ông chỉ còn biết nhớ về một thuở khi mọi thứ đến cứ nhẹ nhàng như không.”

Phần gặp gỡ với Scott Fitzgerald tại Paris năm ấy có lẽ là phần hài hước và thú vị nhất trong cả cuốn sách, đặc biệt là chuyến du lịch nho nhỏ đến Lyon của hai nhà văn lớn này. Từ việc Hemingway bị Scott Fitzgerald bị cho “leo cây” nên đành phải ngủ trong một khách sạng tương đối sang trọng cùng với Turgenev trong đêm đầu tiên đến Lyon, cho đến chuyến về Paris bằng xe hơi của Fitzgerald, đến cảnh hai người nghỉ chân tại một khách sạn dọc đường và Fitzgerald lúc đó nằm dưỡng sức vì cho rằng mình đang bệnh, rồi càm ràm, vòi vĩnh Hemingway này kia. Từ những dòng hồi ức của Hemingway, có thể thấy được một sự cảm thông đối với Scott Fitzgerald, vì theo Hemingway, Scott Fitzgerald bị bà vợ của mình, Zelda, hành hạ quá mức, đến nỗi lúc nào cũng bị lôi vào những cuộc vui chè chén say khướt không thể làm gì được. Và dù bị Scott Fitzgerald phiền nhiễu rất nhiều, nhưng đối với Hemingway, thì Scott Fitzgerald vẫn là người bạn rất thân thiết, như ông đã viết: “…trong từng ấy năm tôi không có người bạn nào thân thiết hơn Scott mỗi khi anh tỉnh táo.”

Một Paris với những buổi gặp gỡ bạn bè, những buổi ngồi viết lách tại quán nước, những lần đi mượn sách tại Shakespeare and Company, những lần đem cái bụng đói meo của mình đến thưởng thức tranh tại bảo tàng Luxembourg, v.v.. Tất cả hiện ra chớp nhoáng và gần như rời rạc, bởi vì đây không phải là hồi kí mà chỉ là những hồi tưởng của một Hemingway, lúc ấy đã trở thành một ông già, nhìn lại quãng đời trai trẻ của mình khoảng 35 năm về trước, quãng thời gian có lẽ là đẹp nhất của đời ông, đó là một Paris “của thuở ban đầu, khi chúng tôi còn rất nghèo và hạnh phúc.”

Bài gốc đăng tại đây.

Review: ANNE TÓC ĐỎ DƯỚI CHÁI NHÀ XANH (Hà Thanh Thuỷ)

Trong những cuốn sách của Nhã Nam mà tôi đã từng được đọc, tác phẩm để lại cho tôi những rung cảm sâu sắc nhất về cuộc đời, về thiên nhiên thơ mộng và về vạn vật tươi đẹp xung quanh là cuốn sách “Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh”.

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về phần mở đầu của mình nhưng cách tiếp cận mà tôi chọn lại là cách đơn giản nhất, cai cách mà từ học sinh lớp 1 mới tập viết văn cho tới những người lớn đều có thể nghĩ ra và sử dụng được. Tôi nghĩ rằng đối với một câu chuyện bình dị, nhẹ nhàng nhưng rất đỗi tinh tế thì một mở đầu giản đơn sẽ hợp với nó hơn là những từ ngữ hoa mĩ.

Ảnh: Thi Quỳnh

Tôi là một người thích đọc sách nhưng không bao giờ mua một cuốn sách chỉ vì cái tên của nó nghe thật ấn tượng hay bìa sách được thiết kế đẹp mắt. Tôi luôn tìm hiểu kĩ một cuốn sách trước khi quyết định mua nó bởi tôi sợ nếu vội vàng thì cuốn sách đó sẽ làm tôi thất vọng. Tôi không muốn lãng phí thời gian của mình vào nhưng câu chuyện nhàm chán khi có quá nhiều điều thú vị đang chờ đón tôi trong những trang sách khác. Nhưng “Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh” là một ngoại lệ và nó đã không làm tôi thất vọng. Tôi sẽ yêu quý cuốn sách đó cho dù có ở bất kỳ độ tuổi nào đi chăng nữa.

Anne là một cô bé mồ côi. Cuộc đời em là một chuỗi bất hạnh khi mẹ chất, cha cũng qua đời cho đến khi được hai người tốt bụng là ông Matthew và bà Marilla Cuthberth nhận nuôi. Anne bé nhỏ luôn mơ ước về một mái ấm gia đình hạnh phúc và cuối cùng Chái Nhà Xanh đã trở thành mái ấm của em. Anne có thể là một cô bé lãng mạn vô phương cứu chữa nhưng Anne đã tìm lại cho tôi cách tưởng tượng, cách mơ mộng của một cô bé mà từ lâu tôi đã quên. Với cuộc sống đầy màu sắc của Anne bên Hồ Nước Lấp Lánh hay dưới các tán cây trên Đường Trắng Hân Hoan đã giúp tôi nhận ra bấy lâu nay mình đã nhìn cuộc sống dưới con mắt tiêu cực về mọi thư mà chưa bao giờ nhìn về mặt tích cực của nó. Tôi dần thấy cuộc sống của mình tươi đẹp hơn qua cái mà tôi gọi là “suy nghĩ của Anne”. Nếu như Anne không có bạn thì cô bé sẽ tự tưởng tượng ra những người bạn cho mình. Vấn đề ở đây chỉ là chúng ta chọn cách nhìn đời, đối diện với cuộc sống như thế nào mà thôi. Một ánh nhìn lác quan hay một tưởng tượng đẹp đẽ sẽ làm bạn quên đi cuộc sống khắc nghiệt hiện tại.

Tôi cũng ngưỡng mộ tình bạn tri kỷ của Anne và Diana, 1 tình bạn mà theo như cô bé nói là chỉ có thể xuất phát từ hai tâm hồn đồng điệu. Cô bé đã tìm thấy một người bạn tâm giao mà có người dù dành cả cuộc đời tìm kiếm cũng không có được. Tôi cũng cảm đọng trước những cảm xúc mà hai cô bé dành cho nhau. Dù khi bị cấm chơi với nhau chúng vẫn hứa sẽ không bao giờ quên nhau và sẽ hông bao giờ có thế yêu ai khác như đã từng yêu thương nhau. Và cảm xúc lại vỡ òa khi chúng được trở lại làm bạn với nhau như xưa. Qua thời gian, không còn có gì có thể xen vào tình cảm đáng quý và trong sáng ấy.

Còn về tình yêu, có lẽ đối với tập truyện này thì còn quá sớm để nói về tình yêu giữa Anne và Gilberth. Tôi yêu sự giận dỗi trẻ con của chúng, yêu cái cách làm lành đáng yêu của Gilberth. Và suýt nữa Anne đã làm tôi thất vọng với lời cảm ơn và xin lỗi muộn màng của Anne. Cảm ơn câu chuyện của bà Marilla đã khiến Anne không mắc phải một sai lầm như bà, để đánh mất tình yêu lớn của cuộc đời mình chỉ vì một xích mích nhỏ nhoi.

Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh bắt đầu bới những hình ảnh quen thuộc về những miền quê, về những người hàng xóm tốt bụng và kết thúc cũng với những hình ảnh ấy qua một cô bé Anne đã trưởng thành lên nhiều khi được sống giữa tình yêu thương. Câu chuyện không có những tình huống ly kì, hấp dẫn nhưng vẫn cuốn hút người đọc lật từ trang này qua trang khác, đọc ngấu nghiến mà quên cả thời gian mà như đang lạc vào khung cảnh quen thuộc của Đảo Hoàng tử Edward với Chái Nhã Xanh thân thương.

Bài đã được đăng tại đây.