Review: “NỬA KIA CỦA HITLER” – ERIC-EMMANUEL SCHMITT (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây: “NỬA KIA CỦA HITLER” – ERIC-EMMANUEL SCHMITT

Eric-Emmanuel Schmitt sinh năm 1960 tại Lyon, là một trong những tác giả tiêu biểu của nền văn học Pháp và là một trong những tác giả Pháp đương đại được đọc và dịch nhiều nhất ở nước ngoài. Ngoài sáng tác tiểu thuyết, ông còn là tác giả kịch và giảng viên triết học. Eric-Emmanuel đã viết các tác phẩm của mình để cả những người trí thức và người bình dân đều tìm được điều gì đó thú vị. Tôn giáo cũng là chủ đề ưa thích của ông bên cạnh lịch sử, triết học, phân tâm học.

Điều gì sẽ xảy ra nếu như ngày 8.10.1908 đó, ban giám khảo Học viện Mỹ thuật thành Viên nhận Adolf Hitler trở thành sinh viên? Có lẽ thay vì trở thành một gã độc tài đồng trinh gây nên cuộc thảm sát hàng triệu người Do Thái, Hitler đã trở thành một họa sĩ trường phái siêu thực danh tiếng và hạnh phúc. Tác giả đã chọn cái ngày định mệnh ấy để phân ra hai nửa con người song song của Hitler – một Hitler lịch sử và một Adolf H. hư cấu, dựa trên “hiệu ứng cánh bướm”: liệu một con bướm vỗ cánh ở Brazil có gây nên một cơn lốc xoáy ở Texas, nếu giá trị của một tham số đầu vào thay đổi, dù là cực nhỏ, liệu nó có gây ra những kết quả hoàn toàn trái ngược không? Cái ngày 8 tháng 10 đó, đã hoàn toàn thay đổi dòng chảy của lịch sử thế giới.
Vào ngày đó, Adolf H. được nhận vào trường Mỹ thuật và bắt đầu thực hiện giấc mơ họa sĩ của mình, kết bạn với những họa sĩ tài năng khác, có hàng loạt tình nhân, tham gia Thế chiến thứ nhất với nỗi ghê sợ chiến tranh. Sau chiến tranh, Adolf H. trở thành một họa sĩ siêu thực nổi tiếng và giàu có, có vợ con, tham gia giảng dạy ở đại học, rồi chết trong vòng tay gia đình. Trong khi đó, Hitler sau khi bị đánh trượt trờ thành một kẻ lang thang vô gia cư nghèo khổ, không có bạn bè ngoại trừ một tên lừa đảo, nói dối mình là một họa sĩ, say mê những vở opera của Wagner, bắt đầu tiếp xúc với chủ nghĩa bài Do Thái và khái niệm chủng tộc người Đức thượng đẳng. Trong Thế chiến thứ nhất, Hitler liên tục thoát chết và cho rằng mình được thế lực siêu nhiên bảo vệ, lao vào chiến đấu hăng say đến mức cuồng dại. Sau đó, Hitler trở thành cán bộ tuyên truyền rồi từng bước trở thành Quốc trưởng. Tham gia Thế chiến thứ hai, Hitler ra sức tận diệt người Do Thái, thất bại trong vòng xoáy bạo lực do chính mình tạo ra dẫn đến việc cuối cùng phải tự sát trong boong ke.

Đứng trước hoàn cảnh và số mệnh, con người không thể chối bỏ nó, điều làm nên sự khác biệt là những lựa chọn. Adolf H. chọn lựa một cuộc sống bình thường của con người với tình bạn, tình yêu, tình dục, tình cảm gia đình, tình thầy trò, cảm thấy bản thân là một người tầm thường chỉ là một trong số hàng triệu triệu người trên Trái Đất. Ngược lại, Hitler hoàn toàn cô lập bản thân, luôn đổ lỗi cho người đời đã không công nhận tài năng của hắn, chối bỏ những nhu cầu cơ bản nhất của con người là tình yêu và tình dục, đặt mình vượt lên trên tất cả những con người tầm thường, tự xem mình là một vị thánh cứu rỗi nhân loại, mong muốn đem đến một thế giới thượng đẳng và thuần khiết. Hitler tự cho mình là một thiên tài xuất chúng, càng không được công nhận thì càng cố chứng tỏ bản thân vượt trội, sống chết với lý tưởng tự cho là đúng đắn của mình, lệch lạc với ý nghĩ mình là trung tâm thế giới. Hitler cuồng tín vì chiến tranh, phát hiện ra rằng chiến tranh là bản chất của sự tồn tại trên đời.

Tác giả đơn thuần là người kể chuyện, không đưa ra bất kỳ đánh giá hay phán xét nào, cũng không phải để thể hiện quan điểm chính trị. Các sự kiện lịch sử, cuộc thảm sát hàng triệu người Do Thái và đẩy hàng triệu người lính ra chiến trường, tất cả đều chỉ đề cập thoáng qua. Đây không phải là một quyển sách để vạch trần tội ác của Hitler mà là một quyển sách nói đến bản chất con người. “Hitler không nằm ngoài mỗi con người, hắn nằm trong chúng ta. Hắn là một trong những con người mà chúng ta có thể trở thành. Hắn sẽ là chúng ta khi chúng ta để mình bị cuốn theo những suy luận dễ dãi, tối giản hóa sự việc, tìm cách đổ lỗi cho người khác. Hắn sẽ là chúng ta khi chúng ta muốn lúc nào mình cũng có lý, sẽ là chúng ta nếu như chúng ta không bao giờ cảm thấy có lỗi… Kẻ thù lớn nhất của con người là chính mình… Con quái vật này nằm trong tôi cũng như nó nằm trong mỗi người, trong toàn nhân loại. Giam chặt nó suốt đời ta hoặc thả nó ra, chỉ có ta tự chịu trách nhiệm về điều đó.” Trong mỗi người đều có thiên thần và ác quỷ, chính sự lựa chọn làm chúng ta khác đi.

 

Review: “LỤA” – ALESSANDRO BARICCO (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây: “LỤA” – ALESSANDRO BARICCO

Alessandro Baricco sinh ở Turin năm 1958, là nhà văn và nhà âm nhạc nổi tiếng của Ý. Năm 1995, tác phẩm đầu tay “Lâu đài nổi giận” được giải thưởng văn học Médicis của Pháp dành cho tác phẩm văn học nước ngoài xuất sắc nhất. “Lụa” (Seta) được xuất bản ở Ý năm 1996 và ở Pháp năm 1997, nhanh chóng chinh phục cả châu Âu, trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất cả châu lục, đồng thời Alessandro Baricco được coi là một trong những nhà văn lớn của thế hệ mới.

Nước Pháp năm 1861, khi một dịch bệnh khiến tằm không thể sống sót được đe dọa đến ngành dệt lụa, Herve Joncour – một thương gia trứng tằm – đã vượt qua hàng dặm đường đến nơi tận cùng thế giới Nhật Bản nơi có giống tằm dệt ra loại lụa tốt nhất thế gian. Trong cuộc thương lượng với một lãnh chúa nơi đây, Herve bị thu hút bởi người thiếp của ông ta, một cô gái có khuôn mặt thiếu nữ và đôi mắt không mang chút nào nét phương Đông. Mặc dù không thể nói với nhau bất cứ lời nào, chưa kể thân phận và nguồn gốc của họ rất xa vời và khác biệt, khoảng cách trùng điệp giữa châu Á và châu Âu, nhưng tình yêu lặng thầm đã nảy nở giữa họ, vượt lên trên mọi ngôn ngữ hay khoảng cách. Ngay từ ánh mắt đầu tiên, họ dường như đã biết đó chính là định mệnh của đời mình.

Ảnh: Huỳnh Công Kiều Xuân
“Đột nhiên,
vẫn không cựa quậy,
thiếu nữ
mở mắt.
… và chúng nhìn anh đăm đăm đến sững sờ, như thể là trước đó mắt nàng không làm việc gì khác ngoài nhìn đau đáu vào anh ngay cả dưới làn mi nhắm.”

Say mê và tình yêu, đôi khi chỉ bắt đầu bằng một ánh mắt đăm đắm hay một cái nhìn lặng lẽ, tựa như số phận đã xếp đặt cái duyên không lẫn vào đâu được. Một phần tâm hồn Herve dường như đã lạc mất trong ánh mắt sâu thẳm lạ kỳ kia, để dù cách xa hàng ngàn dặm phương trời, anh vẫn không ngại đường xa nguy hiểm quay trở lại bên nàng, vì chút cảm xúc mê đắm trong tim. Đôi khi chỉ để được nhìn thấy ánh mắt không phải phương Đông, chỉ để nhìn thấy gương mặt của một thiếu nữ, chỉ để cho một cái chạm tay thật khẽ. Lụa – đó là thứ vải đỏ rực như một ngọn lửa khoác trên người thiếu nữ, là cái chạm mơn man trên da thịt, là thứ the mỏng manh dệt nên từ hư vô, rồi phút chốc tan biến đi ngỡ như chưa có gì. Hình ảnh cuối cùng Herve nhìn thấy trước khi phải rời xa nàng mãi mãi, vẫn là hàng ngàn tấm lụa nhiều màu sắc sột soạt phất phơ trong không khí. Giấc mơ hư ảo đẹp đẽ cho một nỗi đau thật lạ lùng.

Rời bỏ nước Nhật và trở về bên người vợ hiền dịu Helene của mình, Herve vẫn khó có thể xóa nhòa đi hình ảnh người thiếu nữ đã đánh cắp trái tim anh. Những say mê ánh ảnh nơi nước Nhật đã theo anh về tận nước Pháp, anh đã xây một khu vườn mang dáng dấp khu rừng nơi anh nhìn thấy thiếu nữ, ao ước dựng nên một cái lồng chim giống như cảnh người thiếu nữ bên cạnh chiếc lồng. Trái tim anh đã vĩnh viễn chôn vùi nơi nước Nhật tận cùng thế giới.

“Lụa” như một viên ngọc huyền bí ma mị mang đậm dấu nét phương Đông tỏa sáng rực rỡ trong nền văn học châu Âu. Lặng lẽ như một bức tranh tĩnh vật nhưng chồng chồng lớp màu sắc sinh động ngầm chảy. Cô đọng, súc tích nhưng sâu lắng, mạnh mẽ và mãnh liệt, sức sống của câu chuyện tình chảy ngầm bên dưới những câu chữ giản đơn, để rồi trào dâng trong lá thư ái tình tràn đầy đến mức choáng váng.

“Chúa yêu dấu của em.
Anh đừng sợ, đừng cựa quậy, hãy yên lặng, chẳng ai nhìn thấy chúng ta đâu.
Hãy nằm yên nhé, em muốn được nhìn anh, em đã nhìn anh nhiều lắm nhưng anh không thuộc về em và giờ đây anh là của em, đừng lại gần em, xin anh, hãy nằm yên tại đây, chúng ta có một đêm nay cho riêng mình, và em muốn được nhìn anh, chưa bao giờ em nhìn thấy anh như thế, thân thể anh là thuộc về em, da thịt anh, nhắm mắt lại đi và hãy ve vuốt thân hình anh, em xin anh…”

Lụa – mỏng mảnh mà bền bỉ, cứ quyến luyến mãi không rời.
Yêu thích: 4 / 5.

 

Review: “CHÚ BÉ MANG PYJAMA SỌC” – JOHN BOYNE (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây:  “CHÚ BÉ MANG PYJAMA SỌC” – JOHN BOYNE  

   John Boyne sinh năm 1971 tại Ireland. “Chú bé mang pyjama sọc” đã bán được 5 triệu bản khắp thế giới, từng đứng đầu các danh sách sách bán chạy tại Mỹ, Anh, Australia, Ireland, Tây Ban Nha…

   “Chú bé mang pyjama sọc” là một quyển sách được kể với góc nhìn của một cậu bé chín tuổi nhưng hoàn toàn không phải là sách cho trẻ em. Tưởng ngây thơ, vô tư, hồn nhiên nhưng thật ra đầy ám ảnh, nặng nề và choáng váng.

   Quyển sách mở đầu rất bình thường: Bruno theo gia đình chuyển từ thành phố Berlin đến một nơi gọi là Ao Tuýt theo yêu cầu công việc của cha cậu. Cậu cũng không biết chính xác công việc của cha cậu ngoại trừ việc là thân tín của Quốc trưởng, thường xuyên có những sĩ quan với những bộ đồng phục giống nhau, gắn những món đồ trang trí thường xuyên ra vào nhà cậu, gọi cha cậu là Ngài chỉ huy. Cậu luôn tỏ ra chán nản vì phải xa ngôi nhà năm tầng xinh đẹp, xa bạn bè, xa ông bà nội và những tiện nghi náo nhiệt của thành phố. Ở Ao Tuýt, căn nhà ba tầng trơ trọi không có gì ngoài những hàng rào kẽm gai trải dài vượt khỏi tầm mắt ngăn cách với những con người lặng lẽ mặc pyjama mà cha cậu giải thích rằng họ không hẳn là con người. Bất chấp những điều cấm, cậu bé Bruno ưa thích khám phá đã đi dọc theo hàng rào kẽm gai và tình cờ làm quen với một cậu bé cùng tuổi người Ba Lan mặc pyjama phía bên kia hàng rào. Hai cậu bé Bruno và Shmuel trò chuyện với nhau về cuộc sống bên này – bên kia, Bruno chia sẻ đồ ăn cho người bạn gầy gò. Khi Bruno than phiền về căn nhà thì không hề biết rằng Shmuel chẳng còn một mái nhà để mà ở; khi Bruno chẳng có ai để chơi và ganh tị với Shmuel vì có hàng trăm người bạn, Bruno đâu biết rằng họ đang bị giết dần giết mòn. Với lời hứa giúp Shmuel tìm cha bị mất tích, Bruno đã chui qua hàng rào kẽm gai và mặc bộ pyjama sọc. Hai cậu bé bị lẫn vào đám đông diễu hành, bị đẩy vào một căn phòng tối mà Bruno vẫn nghĩ là để trú mưa và mãi mãi không thể trở ra… Cái kết đau đớn và sắc bén như một nhát dao, đâm thẳng vào tim người cha – chỉ huy của trại tập trung lại mất đứa con trai trong chính những phòng hơi ngạt của mình, đồng thời cũng là một nhát dao cứa vào tim người đọc. Cái ác tàn nhẫn, cái chết vô tình thì nào có chừa một ai dù là “người Đức siêu việt” hay người “Do Thái thấp kém”.

Ảnh: Hoàng Lan Anh
   Khi tội ác diệt chủng Do Thái tại trại tập trung Auschwitz được nhìn và kể thông qua một đứa trẻ thì sẽ như thế nào? Không hề có súng đạn, máu chảy, không có những tiếng kêu gào thảm thiết, ở đó chỉ có sự vô tư, hồn nhiên nhẹ bẫng, nhưng lại khiến những người lớn chúng ta quặn thắt xót xa. Vì chỉ là những đứa trẻ, chúng không biết thế nào là phân biệt chủng tộc, là con người hay không phải con người hay thế nào là người Đức siêu việt… Vì là những đứa trẻ, chúng không thể nào biết cái chết đang lơ lửng trên đầu. Hoàn toàn trong sáng như một tờ giấy trắng, Bruno và Shmuel đã trở thành bạn thân nhất đời nhau. Hàng rào kẽm gai ngăn cách hai thế giới, nhưng không thể ngăn cách những trái tim chân thật và hồn nhiên đến với nhau. Cho đến cuối cùng, hai cậu bé vẫn nắm tay nhau thật chặt…
Yêu thích: 4,5 / 5.

 

Review: “CHÚA RUỒI” – WILLIAM GOLDING (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây:  “CHÚA RUỒI” – WILLIAM GOLDING

 “Chúa Ruồi” là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn người Anh William Golding, được xuất bản năm 1945. Golding được trao giải Nobel Văn chương năm 1983. Năm 2008, tạp chí Times bình chọn Golding là một trong ba nhà văn đứng đầu danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất kể từ năm 1945”.
   “Chúa Ruồi” là quyển sách viết về trẻ em nhưng không dành cho trẻ em. Nó hiện thực, khốc liệt và nghiệt ngã.
Câu chuyện bắt đầu khi chiếc máy bay chở hàng chục đứa trẻ đi sơ tán bị gặp nạn. Chúng may mắn sống sót, dạt vào một hoang đảo trên Thái Bình Dương. Tại đây chúng chia làm hai phe do Ralph và Jack làm thủ lĩnh, bắt đầu dấn thân vào cuộc chiến sinh tồn, bản năng dần được bóc lộ và cái khắc nghiệt của hoang dã khiến cuộc sinh tồn trở thành cơn ác mộng.
   Ban đầu, Ralph tìm được một cái vỏ ốc làm tù và để tập hợp bọn trẻ, Ralph được bầu làm thủ lĩnh. Với Ralph, điều quan trọng nhất là duy trì ngọn lửa để tàu thuyền đi ngang có thể thấy được và cứu bọn trẻ ra khỏi hoang đảo. Những đứa trẻ non nớt không phương hướng không biết làm gì ngoài tuân theo thủ lĩnh của chúng – hay nói đúng hơn là tuân theo điều có thể mang lại lợi ích cho chúng. Nhưng với những đứa trẻ con nhiều nhất cũng chỉ mười hai mười ba tuổi không thể tập trung làm bất cứ việc gì thì việc duy trì ngọn lửa để được cứu là quá xa vời, mà việc trước mắt là đi tìm đồ ăn là quan trọng hơn. Chúng không thể chịu đựng nổi những thứ trái cây nhạt nhẽo mà muốn săn những con lợn rừng hấp dẫn. Jack dẫn đầu nhóm này, nhận ra việc có thể kiếm được thịt tạo cho nó sự nể phục của những đứa trẻ khác. Bọn chúng ban đầu vẫn còn e dè nhưng rất nhanh sau đó đã trở thành những kẻ đi săn thực thụ, vẽ mặt kiểu thổ dân và sống ở hang đá. Jack được thỏa khát khao làm thủ lĩnh của mình, một thủ lĩnh có thể khiến những người còn lại e dè sợ sệt. Jack và nhóm của nó đã từ bỏ quyền con người của mình để sống như mọi rợ thời tiền sử. Chúng đã sớm từ bỏ hy vọng được cứu, chấp nhận sống ở đảo hoang để thỏa mãn cái cảm giác lần đầu tiên được làm chủ một cái gì đó, tự do sống theo ý thích, khi đói thì vào rừng đi săn, khi buồn chán thì chơi trò săn bắt giả. Ở hoang đảo, chúng không cần bận tâm đến những thứ quy tắc, luật lệ mà người lớn đặt ra, không chịu bị quản thúc hay ngăn cấm, chúng sống theo cách bản năng hoang sơ nhất của loài vật. Chúng có sức mạnh, chúng có số đông, chúng nhanh chóng tỏ ra là những kẻ thống trị hoang đảo. Chúng thống trị bằng những cây lao nhọn, những cú đâm không khoan nhượng, những cú chém mạnh mẽ vào những con heo rừng. Nhóm của Jack lấn át nhóm của Ralph bởi chúng biết kiếm đồ ăn, có vũ khí, có số đông, dần dần khiến cặp sinh đôi của nhóm Ralph phải quy phục, và thẳng tay giết những kẻ chống đối. Những con người hiện đại từ bỏ phần NGƯỜI của mình để trở về phần CON, ăn rồi ngủ rồi lại ăn rồi hạ hết những kẻ ngáng đường, thế thì có khác gì những con heo rừng đầy rẫy trên đảo? Cuộc sống hoang dã của thiên nhiên đã tách rời bọn trẻ khỏi cuộc sống văn minh, nhưng chính bọn chúng đã chọn từ bỏ nền văn minh con người của mình.
   Ban đầu chỉ là nhu cầu thức ăn, bọn trẻ buộc phải giết những con lợn rừng. Nhưng giết với thái độ vui sướng và chiếm lĩnh, chúng dần xem đó là việc nghiễm nhiên, là việc chứng tỏ uy quyền làm chủ thiên nhiên của con người. Chúng dùng sức mạnh để khắc chế thứ yếu hơn, ra tay không khoan nhượng để đạt được mục đích. Dần dần, ngay cả việc giết người cũng không làm chúng chùng tay. Với chúng, việc kết thúc sinh mạng của ai đó cũng chỉ đơn giản như giết một con lợn rừng. Chúng có sức mạnh và số đông trong tay, cũng không phải bị trừng phạt hay trả giá, thì có điều gì ngăn cản chúng không làm đâu.
   Chúa Ruồi đã xuất hiện từ đó, hiện thân là cái đầu heo cắm trên cái cọc bị ruồi vây kín. Thực ra nó không tự sinh ra cũng không tự mất đi, mà nó có cơ hội xuất hiện hay không. Chúa Ruồi có sẵn trong mỗi con người, trong con người luôn có phần ác và phần thiện. Nhưng luật pháp, quy tắc, áp lực của xã hội đã phần nào khắc chế phần ác: không giết người, không ích kỷ, không cướp giật… Nhưng khi pháp luật không còn, cái ác có cơ hội được bộc lộ. Đứng trước hoàn cảnh gian khổ khó khăn, một là khiến con người mạnh mẽ và bản lĩnh hơn, hai là tuột dốc hoàn toàn đánh mất chính bản thân mình. Không có bất cứ giới hạn nào, liệu con người có thể tuột dốc đến đâu? Điều khủng khiếp nhất của con người chính là từ bỏ quyền làm người của mình.

 

Review: “CÁNH CHIM TRONG GIÓ” – LÊ HỒNG LÂM (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây:  “CÁNH CHIM TRONG GIÓ” – LÊ HỒNG LÂM 

Quyển sách là tập hợp các bài đánh giá, phê bình phim điện ảnh trong và ngoài nước của Lê Hồng Lâm – một tác giả phê bình điện ảnh quen thuộc trong giới. Quyển sách được chia làm ba phần: điện ảnh Việt, điện ảnh quốc tế và cảm hứng điện ảnh nói về tác động của điện ảnh đến cuộc sống.

   Lê Hồng Lâm tốt nghiệp khoa Báo chí, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đã có năm năm làm phóng viên, biên tập viên Văn nghệ của báo Sinh viên Việt Nam, mười hai năm làm thư ký tòa soạn của tạp chí Thể thao Văn hóa & Đàn ông, đồng thời là tác giả của ba quyển sách về phê bình điện ảnh (quyển “Cánh chim trong gió” là quyển thứ ba), đã viết và chia sẻ hàng trăm bài viết về phim ảnh trên facebook, vì thế có thể nói Lê Hồng Lâm là một cây bút kỳ cựu và chuyên nghiệp về điện ảnh. Không chỉ đánh giá và bình luận, tác giả thật sự có hiểu biết sâu rộng về tất cả những vấn đề liên quan đến bộ phim: tác phẩm gốc, các tác phẩm liên quan, đạo diễn, diễn viên, cách dựng phim, kịch bản, ý tưởng, các giải thưởng, phản ứng của giới chuyên môn và khán giả… Tác giả như một quyển từ điển sống về điện ảnh, am hiểu rộng và sâu sắc đến môn nghệ thuật thứ bảy. Với tác giả, điện ảnh không chỉ là một công việc hay một nghề, nó đã trở thành tình yêu lớn và niềm đam mê lớn.
   Với điện ảnh trong nước còn đang đầy rẫy những bộ phim mì ăn liền nhanh gọn nhưng độc hại, Lê Hồng Lâm thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm. Nhưng với một nền điện ảnh còn non trẻ chưa thể so sánh với các bộ phim Oscar hay Cannes, tác giả vẫn có cái nhìn khoan dung hơn, chân thực cổ vũ cho những bộ phim đơn giản nhưng chặt chẽ, thậm chí không cần quá đề cao nội dung mà chỉ cần phần hình ảnh có sức mạnh và chất thơ riêng biệt – những thứ thật sự có ngôn ngữ điện ảnh. Trước những bộ phim mới, Lê Hồng Lâm luôn đứng ở vị thế của người quan sát để có những cái nhìn khách quan nhất có thể. Tác giả khuyến khích những người nghệ sĩ chân chính phải biết sáng tạo tự do, không bó buộc trong khuôn khổ, nhưng tiếc thay những tác phẩm đặc sắc của Việt Nam lại hay chết trên bàn kiểm duyệt của những tư duy cũ kỹ, an toàn, lối mòn.
   Đến với phần điện ảnh quốc tế, tác giả giới thiệu những bộ phim đỉnh cao nhất có thể đại diện cho cả nền điện ảnh nhân loại. Tác giả đề cao “điện ảnh cảm giác” – là loại điện ảnh thực thụ mang lại cảm xúc thật sự cho người xem. Bởi điện ảnh, suy cho cùng luôn là một lăng kính của cuộc sống. Một bộ phim không thể được gọi là thành công khi không thể chạm đến trái tim người xem. Phim phải là đời, là người.
   Với phần thứ ba, tác giả nói đến mối quan hệ chặt chẽ của điện ảnh và cuộc sống. Có những sự kiện trong cuộc sống là cảm hứng cho điện ảnh, ngược lại cũng có những bộ phim nhìn thành cuộc sống và cách điện ảnh có thể ảnh hưởng đến văn hóa và chính trị như thế nào. Điện ảnh như là một phần văn hóa, có thể trở thành một Quyền lực mềm tạo nên sức mạnh cho cả một đất nước.
   Có thể nói Lê Hồng Lâm là một cây bút phê bình chuyên nghiệp, nhưng giọng văn và ngôn ngữ không hề hàn lâm hay khô khan, ngược lại rất hiện đại, cuốn hút và dễ đọc với bất kỳ ai. Tác giả giúp người đọc/người xem có cái nhìn đa chiều hơn, sâu rộng hơn về bộ phim cũng như các vấn đề thời cuộc. Thông qua những bộ phim, Lê Hồng Lâm đề cao phẩm giá nhìn nhận điều đúng đắn và óc sáng tạo không giới hạn của con người, để tự do luôn là cánh chim trong gió không ràng buộc. Người nghệ sĩ giữ cho mình sự tự do và con mắt sáng trong nhưng cũng không dễ dãi, thỏa hiệp hay công thức một màu, mà không ngừng bay cao bay xa tìm kiếm những khát khao mới.
Đánh giá: 4,5/5
Yêu thích: 5/5

Review: “OH BOY!” – MARIE-AUDE MURAIL (Winny Nguyễn)

Bài gốc được đăng tại đây:  “OH BOY!” – MARIE-AUDE MURAIL

Marie-Aude Murail sinh năm 1954 tại Pháp. Sau khi tốt nghiệp khoa văn Đại học Sorbonne, bà dành toàn thòi gian để viết sách. Năm 2004, bà được trao tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh vì những cống hiến cho văn học. Là một trong những tác phẩm thiếu nhi hay nhất của Murail, “Oh, boy!” ra mắt năm 2000 đã giành được giải thưởng Văn học dành cho thanh thiếu niên Pháp.

   Ba đứa trẻ nhà Morlevent trở thành trẻ mồ côi khi bố bỏ đi, mẹ tự sát và chúng không còn bất cứ họ hàng nào trên đời. Chúng là Siméon, sở hữu bộ óc thần đồng nên tuy chỉ mới mười bốn tuổi đã học lớp 12. Morgane tám tuổi, luôn đứng đầu lớp nhưng hay tự ti vì đôi tai rất to. Venise, năm tuổi, mắt xanh tóc vàng, xinh xắn như một búp bê mà ai gặp lần đầu tiên cũng đều cảm mến. Cả ba không muốn giao phó số phận của mình vào tay người bảo trợ xã hội, bọn trẻ quyết tâm “cùng nhau hoặc là chết”, tự tìm cho mình một gia đình.

    Siméon biết là trên đời này vẫn có những người anh em cùng mang họ Morlevent, và đó là chiếc phao cứu sinh duy nhất của chúng. Một người là Josiane – một bác sĩ nhãn khoa giàu có từng là con nuôi của bố chỉ muốn nhận nuôi bé Venise xinh xắn, và một người là Barthélemy – một người cùng cha khác mẹ, đồng tính, hai mươi sáu tuổi, lông bông, chưa thể chịu trách nhiệm cho bất cứ gì kể cả cuộc đời mình và hay luôn miệng “Oh, boy!” một cách hốt hoảng. Liệu ai trong hai người có thể giành quyền giám hộ bọn trẻ và bọn trẻ sẽ chọn ai đây?
Josiane đem đến cho Venise – và chỉ Venise trong khi bỏ mặc hai đứa trẻ còn lại bởi vì chúng đã quá lớn và chúng không đẹp đẽ như cô em gái nhỏ – niềm vui, nhưng chỉ có Bart mới là người bên cạnh chúng trong những giờ phút khó khăn nhất. Bart không thể cho chúng một bữa tối đầy đủ hay một căn biệt thự bên bờ biển mà chỉ quăng cho chúng một đống kẹo và trò chơi điện tử, nhưng Bart chưa từng chia rẽ chúng, là người đã cùng chơi búp bê với Morgane, là người duy nhất đồng hành từ đầu đến cuối quá trình chữa bệnh của Siméon, là người mỗi khi nhìn thấy máu là ngất xỉu nhưng đã can đảm đến cùng trong việc hiến tiểu cầu cho em trai mình. Cả bệnh viện đều quen mặt Bart khi anh thường xuyên túc trực bên cạnh Siméon, thậm chí cả vị bác sĩ khó tính đã nhiễm luôn cái câu cửa miệng “Oh, boy!” của Bart. Từ một người chưa từng biết đến sự tồn tại của những đứa trẻ cùng cha khác mẹ, Bart đã tranh đấu để giành quyền giám hộ chúng. Kể cả khi Bart không có gì – không công việc ổn định, không tiền, không trách nhiệm, thì anh vẫn có một trái tim yêu thương vô tư và nhiệt thành nhất.
   Trong những ngày tháng khó khăn nhất, Bart là người duy nhất không hề bi lụy. Anh luôn giữ cái vẻ điên điên sôi nổi của mình, nói cười liên tục, thắp sáng những ngày u ám và đau đớn của Siméon. Hằng ngày, Siméon đều ngồi chờ Bart sẽ xuất hiện tại phòng bệnh đúng hai giờ. Trước mặt Bart, Siméon không còn là cậu bé thiên tài già dặn và hay ngán ngẩm trước sự trẻ con của Bart nữa, mà Siméon chỉ là một đứa trẻ không thể chịu đựng nổi cơn đau và không ngừng gọi tên Bart. Bart không chỉ cho Siméon tiểu cầu, Bart còn cho Siméon nguồn sức mạnh to lớn để chống chọi với cơn đau xé người, những trận nôn vật vã hay những đợt hóa trị khó khăn. Còn hơn cả một người anh trai mà bọn trẻ chỉ mới vừa biết đến sự tồn tại vài tháng, Bart đã trở thành sức mạnh của bọn trẻ, là niềm tin và hy vọng vào một gia đình tuy không đủ đầy nhưng là duy nhất. Với món thừa kế đặc biệt từ trên trời rớt xuống này, ban đầu Bart chỉ nhận nó một cách miễn cưỡng vì buộc phải làm. Nhưng trước sức mạnh của tình thân ruột thịt, họ đã dần chấp nhận nhau để trở thành một gia đình nhỏ ấm áp. Không vĩ đại cũng chẳng sướt mướt, cũng không có những lời nói yêu thương bay bổng mà tình cảm giữa họ đều thể hiện qua hành động, sự gắn kết của họ đến một cách tự nhiên như chính dòng máu chung đang chảy trong họ.
   Viết về những sự việc đau đớn và bất hạnh, thế nhưng toàn bộ quyển sách không hề đau buồn bi lụy mà trái lại cực kỳ trong trẻo và tươi vui, bởi nó được viết nên bằng tình yêu, bằng niềm tin và hy vọng. Ngôn ngữ hài hước một cách sâu cay và sắc bén, điệp ngữ “Oh, boy!” được lặp đi lặp lại một cách đáng yêu, đó là cách mà tác giả thể hiện lời nói và bề ngoài của Bart tưởng như tưng tửng, đồng bóng và trẻ con, nhưng thật ra bên trong là một chàng trai ấm áp và sẵn sàng cho đi tất cả những gì anh có – sự ấm áp, chân thành và tình cảm gia đình quý giá không gì thay thế được.

Quà tặng Nhã Nam Thư Quán [22/7/2017]

NẾU BẠN CÓ TÊN TRONG DANH SÁCH DƯỚI ĐÂY, hãy điền thông tin vào link này:
https://goo.gl/forms/m6Gz6uqpzOtAUeFG3

(VUI LÒNG KHÔNG ĐIỀN NẾU KHÔNG TÌM THẤY TÊN BẠN TRONG DANH SÁCH BÊN DƯỚI)

 Bạn cần điền đủ thông tin trước 10h00 ngày thứ Năm, 26/07/2017 và gửi TIN NHẮN cho page Nhã Nam thư quán để xác nhận, nếu không bạn sẽ không nhận được phần quà của mình.
 Sau khi các bạn điền đủ thông tin và nhận được tin xác nhận từ page, bạn có thể đến nhận quà bắt đầu từ ngày thứ Hai, 31/07/2017).
Thời hạn nhận quà là từ 31/07/2017 đến 31/08/2017. Quà sẽ không còn hiệu lực sau thời gian này.

1) 01 cuốn Trao em mặt trời
Thu Uyen (https://www.facebook.com/alliechu28?fref=ufi&rc=p)

2) 01 cuốn sách tùy chọn (dưới 100k)
Minh Phương (https://www.facebook.com/profile.php…)

3) 01 gift box bất ngờ
Nguyễn Mai (https://www.facebook.com/profile.php…)

4) 01 cuốn Điều em cần chỉ là anh hối hận thôi sao + 01 cuốn Ăn, cầu nguyện, yêu
Khánh Linh Phan (https://www.facebook.com/phankhanhlinh13?fref=ufi&rc=p)

Quà tặng [22/7/2017]

NẾU BẠN CÓ TÊN TRONG DANH SÁCH DƯỚI,
hãy điền thông tin vào link này: http://tinyurl.com/QUATANGNHANAM
CHÚ Ý: Bạn cần điền đủ thông tin trước 17h00 ngày 24/7/2017, nếu không bạn sẽ không nhận được phần quà của mình. Nếu nhận trực tiếp, bạn có thể đến từ ngày 27/7/2017, trong giờ và ngày hành chính theo địa chỉ đăng ký (trong vòng 1 tháng), các tỉnh khác quà tặng cũng sẽ chuyển đi từ ngày này.

01 sổ bìa màu:
Nguyễn Đức Anh: https://www.facebook.com/legend.lion.2k…

04 sổ kraft, tặng:
Tuong Lam: https://www.facebook.com/profile.php…
Dương Ngân Hà: https://www.facebook.com/nganha.duong.5?fref=ufi&rc=p
Thảo Nga: https://www.facebook.com/profile.php…
Lưu Lười: https://www.facebook.com/profile.php…

01 cuốn Triết học kỳ thú, tặng:
Trang Kiu: https://www.facebook.com/TrangSmileMaximum?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Thiên văn hấp dẫn, tặng:
Oanh Le: https://www.facebook.com/profile.php…

01 cuốn Tù nhân của thiên đường, tặng:
Phạm Nguyễn Nguyệt Hà: https://www.facebook.com/PhamNguyenNguyetHa?fref=ufi&rc=p

2 bạn mỗi bạn nhận 2 móc khóa (ghi rõ móc khóa mình muốn, nếu hết Ad sẽ đổi sang một móc khóa bất kỳ):
Phương Dung: https://www.facebook.com/phuongdung.le.902?fref=ufi&rc=p
Ngọc Diệp: https://www.facebook.com/ngoc.diep07?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Hắt xì, tặng:
Hải Yến: https://www.facebook.com/heomup.kutestellar?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Hoa mộng ảo, tặng:
Đức Trần; https://www.facebook.com/profile.php…

01 cuốn Một mình ở châu Âu, tặng:
Trịnh Ngọc Như: https://www.facebook.com/trinhngoclulu?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Thằng Khờ, tặng:
An Văn Nguyễn: https://www.facebook.com/beegxnxxmofos?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Những giấc mơ ở hiệu sách Morisaki, tặng:
Trung Beos: https://www.facebook.com/profile.php…

01 cuốn Trên đường, tặng:
Vũ Việt Anh: https://www.facebook.com/vietanh.vu.524?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Mãi yêu con, tặng:
Phạm Thị Thu Hiền: https://www.facebook.com/beh.ut.3?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Cậu bé ăn sách phi thường, tặng:
Thùy Anh Nguyễn: https://www.facebook.com/thuyanh.nguyen.549?fref=ufi&rc=p

01 sổ Cô gái trên tàu, tặng:
Phan Phan Huế: https://www.facebook.com/profile.php…

02 cuốn Ba ơi mình đi đâu có chữ ký dịch giả, tặng:
Trần Linh: https://business.facebook.com/tranlinh2013?fref=ufi&rc=p
Diễm Lệ Thị Trần: https://business.facebook.com/thitran.diemle?fref=ufi&rc=p

01 cuốn Một mình ở châu Âu, tặng
Tú Ngọc: https://www.facebook.com/tu.oc.90?fref=ufi&rc=p

ảnh: (c) diều đơn

Sách sắp phát hành: Câu trả lời chỉ có một

21.7.2017 – Hôm nay, Nhã Nam mới nhận được cuốn sách mẫu này từ nhà in gửi về, sách sẽ được phát hành trong tuần sau.

Kể từ khi mẹ bế em bé Momi từ viện trở về, mọi thứ quanh Yumi đã hoàn toàn thay đổi. Bố đi làm về sẽ ra giường ngắm Momi trước, rồi mới nhìn đến Yumi. Mẹ thì lúc nào cũng bế Momi cho bú ti. Bà đến chơi mua cho Momi bao nhiêu thứ, còn Yumi chỉ được một gói kẹo, trước đây bà chỉ mua quà cho Yumi thôi cơ mà?

Yumi bé bỏng buồn bã và thất vọng, không ai trong nhà quan tâm đến em nữa ư?

“Chị, chị!” sao mà ghét thế! Con chẳng muốn làm chị. Nếu không có em bé thì tốt biết mấy.

Và một điều kỳ lạ đã xảy ra như để thực hiện mong ước ấy của Yumi.

Nhưng liệu Yumi có thấy hạnh phúc khi không còn em Momi nữa?

Cuộc đấu tranh trong nội tâm thơ trẻ của Yumi, những xúc cảm sâu lắng về gia đình lấp lánh trên từng câu chữ trong trẻo và nét vẽ tinh tế. Và người đọc sẽ tìm thấy lời đáp trong tác phẩm thiếu nhi đáng yêu và xúc động này.

REVIEW: BA CHÀNG NGỐC – CHETAN BHAGAT (Winny Nguyễn)

Bài gốc đã được đăng ở đây: BA CHÀNG NGỐC – CHETAN BHAGAT 

Chetan Bhagat sinh năm 1974 tại Ấn Độ, là nhà văn Ấn Độ viết sách bằng tiếng Anh. Tờ The New York Times gọi Chetan là “tiểu thuyết gia viết tiếng Anh bán chạy nhất lịch sử Ấn Độ”, tạp chí Time đưa Chetan vào danh sách “100 người có ảnh hưởng nhất thế giới”, tác giả cũng có mặt trong “100 người sáng tạo trong công việc nhất thế giới” do tạp chí Fast Company bình chọn.

“Ba chàng ngốc”, cái tên làm mình liên tưởng đến những người khờ khạo, ngớ ngẩn hay làm những trò lố ngốc nghếch. Nhưng không, họ thông minh là đằng khác. Họ là 3 sinh viên của Học viện Kỹ thuật Ấn Độ (IIT) khoa Cơ khí: Ryan đẹp trai, thông minh, khá giả, lắm trò, Alok béo tròn, chăm chỉ với những mối bận tâm về gia đình và Hari luôn làm theo lời Ryan, hết mình vì bạn bè, có mối tình nhiều ngăn cấm với Neha. Họ là bộ ba khắng khít, thân thiết, luôn bên nhau khi khó khăn hay vui vẻ, cùng nhau làm những điều điên rồ. Họ cùng nhau lập ra và thực hiện kế hoạch HDK (hợp tác để kiểm soát): một ngày chỉ học ba giờ trong khi các sinh viên khác thì bù đầu bù cổ chong đèn học bất kể ngày đêm, thời gian còn lại họ dành vào việc tận hưởng tuổi trẻ, tụ tập bạn bè, hẹn hò… Đó là kế hoạch đáp trả lại hệ thống bất công của IIT vì “nó kìm hãm tài năng và tinh thần cá nhân, nó bòn rút những năm tháng tươi đẹp nhất của những thanh niên tinh hoa nhất đất nước, nó đánh giá ta bằng một hệ thống điểm GPA hà khắc khiến các mối quan hệ bị phá vỡ…” Kết quả cuối kỳ, cả ba chỉ lẹt đẹt ở GPA 5.0. Không phải họ ngu ngốc – họ từng là những học sinh đứng đầu thời trung học, không phải họ không chăm chỉ, mà với họ, còn những điều quan trọng hơn là suốt ngày chỉ cắm đầu vào học. Trong khi Alok luôn muốn một bảng điểm hoàn hảo để sau này dễ kiếm việc làm đỡ đần gia đình khó khăn thì Ryan như một con ngựa bất kham, chơi bời tự do tự tại và không để những bài tập chất chồng hay những con điểm khô khan kiểm soát được mình. Alok và Hari bị Ryan cuốn theo tinh thần chống đối hệ thống cứng ngắc và kiềm hãm cá nhân để sống cho hết mình, sống cho một lần tuổi trẻ. Nhưng cũng chính Ryan là người đưa ra đề án dầu bôi trơn tiết kiệm nhiên liệu được thầy Veera đánh giá rất cao. Thầy Veera là người duy nhất trong cả học viện nhìn ra được năng lực thật sự của sinh viên không chỉ đánh giá qua GPA mà là khả năng sáng tạo và khả năng có thể làm được những gì của họ. Thầy Veera đã đấu tranh đến cùng để cả ba không bị đình chỉ học mà thay vào đó có cơ hội thực hiện đề án nghiên cứu của Ryan. Những con số GPA, nó quan trọng, nhưng nó cũng chỉ là một phần nhỏ nhoi trong suốt cả cuộc đời lớn lao của bạn. Sau cùng thì chẳng ai có thể lấy điểm số ra khoe khoang để gọi là thành công. Thành công là khi bạn làm được điều gì cho chính bản thân, có thể khiến bản thân tự hào và hạnh phúc.

Tại sao gọi họ là ba chàng ngốc? Thay vì hằng ngày chăm chỉ học hành như những sinh viên khác thì họ đã có thể đạt bảy phẩy tám phẩy, đằng này họ lật tung cả hệ thống IIT trì trệ, cứng ngắc, giết chết sự sáng tạo và đánh giá con người bằng điểm số. Họ chỉ học vừa đủ, tập trung thời gian cho bạn bè, gia đình và cho chính mình cũng như tập trung vào những gì mà mình thật sự đam mê. Alok là đại diện cho những con thiêu thân lao vào học hành để dễ kiếm việc làm mà không thể trả lời được câu hỏi mình thật sự thích gì, trong khi một Ryan lông bông nghịch ngợm nhưng lại quyết tâm theo đuổi đề án của mình đến cùng dù bị trưởng khoa từ chối phê duyệt. Cứ cho là họ ngốc, nhưng họ đã có quãng thời gian sinh viên và tuổi trẻ đẹp nhất cùng những người bạn thân nhất mà sẽ không bao giờ tìm lại được nữa.
Quyển sách không hề chỉ ta phải học hành như thế nào hay khuyến khích bỏ học chỉ chơi. Nó chỉ là một câu chuyện về đời sinh viên nông nổi, điên rồ nhưng cực kỳ đáng nhớ mà ai trong chúng ta cũng sẽ, đang và đã trải qua. Thời gian sinh viên bốn năm nghe dài nhưng cực kỳ ngắn ngủi, nó sẽ định hình rõ ràng con người ta là ai và như thế nào, chắp cánh cho những tình bạn vững bền có thể kéo dài đến suốt cuộc đời, vun vén cho những đam mê và ước mơ, chuẩn bị sẵn sàng cho những hành trang bước vào đời. Giọng văn tươi trẻ, hài hước, phóng khoáng như chính thời sinh viên năng động và nhiều màu sắc, khi đã đọc thì không thể rời mắt.

Đánh giá: 4,5/5.
Yêu thích: 4,5/5.

REVIEW: HÃY NGHĨ TỚI MỘT CON SỐ – JOHN VERDON (Winny Nguyễn)

Ảnh Nguyễn Hà Linh

Bài gốc đã được đăng ở đây: HÃY NGHĨ TỚI MỘT CON SỐ – JOHN VERDON

John Verdon sinh năm 1942 tại Mỹ. “Hãy nghĩ đến một con số” xuất bản năm 2010, mở đầu cho series trinh thám gồm 4 tập: Think of a number, Shut your eyes tight, Let the devil sleep & Peter Pan must die.

Quyển sách sở hữu motif tội phạm giết người hàng loạt quen thuộc: hung thủ có tuổi thơ kinh hoàng ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách, khi lớn lên thì thực hiện hàng loạt vụ giết người để trả thù cho những ám ảnh của quá khứ gây ra bởi gia đình. Hắn tự cho mình là đấng cứu thế loại bỏ cặn bã xã hội, thông qua việc giết người thể hiện quyền lực và trí tuệ của mình. Khi hung thủ ra tay thì hoàn toàn không để lại dấu vết ngoại trừ những lời nhắn thách thức cảnh sát. Với một motif quen thuộc đối với trinh thám hiện đại phương Tây như thế, nếu không có dấu ấn đặc sắc thì dễ trở nên nhàm chán và đơn điệu như hàng loạt tác phẩm khác. Nhưng trong quyển sách này, tác giả đã tạo nên sự khác biệt ngay từ đầu. Tên sát nhân bắt đầu bằng những lá thư chứa những bài thơ đe dọa mơ hồ khủng bố tinh thần nạn nhân, đặc biệt là hắn có thể đoán chính xác con số mà nạn nhân đang nghĩ trong đầu. Một con số bất kỳ từ 1 đến 1000, vậy mà hắn có thể đoán đúng đến hai lần. Hắn dường như có khả năng nhìn thấu tâm trí người khác, nắm bắt họ trong lòng bàn tay. Hắn quá thấu hiểu tâm lý con người, dùng nỗi sợ của chính họ để khống chế và hành hạ như một trò vui tàn nhẫn. Quá kinh hãi trước điều đó, Mark Merelly đã cầu cứu người bạn cũ Dave Gurney hiện là cảnh sát về hưu từng có những chiến công lừng lẫy. Sau đó không lâu, Mark bị giết, rồi lần lượt các nạn nhân khác được tìm thấy với cùng một cách thức gây án: bị đâm nhiều nhát vào cổ bằng vỏ chai rượu, cốt để che giấu vết đạn… “Đứa bé trong phòng ngủ cùng người mẹ lẻ bóng và người cha nát rượu đến loạn trí… Những tiếng thét ấy, những vệt máu ấy, sự bất lực ấy… Những tổn thương tinh thần và thể xác khủng khiếp suốt cả cuộc đời… Cái ảo tưởng phải trả thù bằng giết chóc để cứu vãn ấy. Đứa bé Spinks đã lớn lên như thế, đã biến thành kẻ mất trí, sát hại ít nhất năm người đàn ông và suýt nữa thêm 20 người nữa”. Hắn muốn có quyền kiểm soát tuyệt đối đối với không chỉ hiện tại và tương lai mà còn cả quá khứ. Hắn muốn thay đổi quá khứ, hắn muốn vớt vát cái quá khứ đã khiến hắn phải sa lầy ở hiện tại.


Đối trọng với một tên sát nhân cực kỳ thông minh là cựu cảnh sát Dave Gurney nhạy bén, dày dạn kinh nghiệm trong việc phá giải các vụ giết người hàng loạt. Dave là người ám ảnh vì công việc, mang nặng nỗi đau mất con và luôn tự trách mình đã lơ đãng khi trông con vì chỉ nghĩ đến công việc. Dave nghĩ đến người bố nghiện rượu và nhận ra mình cũng chỉ là một người bố tồi tệ giống như ý nghĩ mà tên sát nhân đã gieo vào đầu anh. Kết thúc vụ án cũng là kết thúc việc chạy theo súng đạn vốn dĩ không còn là công việc, Dave mới tìm được cho mình sự thanh thản.
Phần mở đầu của truyện hơn 120 trang rất dài và chậm rãi, nội dung dường như lẩn quẩn và mơ hồ nhưng đó là sự hành hạ và khủng bố tinh thần nạn nhân bằng trò đoán số và những lá thư đe dọa. Đến khi nạn nhân chết, truyện mới bắt đầu tăng tốc, tuy nhiên cũng không quá dồn dập để người đọc có thể nắm bắt mọi chi tiết của vụ án cũng như hiểu rõ tâm lý, động cơ và sự xảo quyệt của thủ phạm. Diễn biến câu chuyện đi theo trình tự suy luận được tác giả dẫn dắt một cách tinh tế khéo léo, vì thế có cảm giác thực hơn như chính người đọc được tham gia vào quy trình suy luận – phá án. Các nhân vật đa dạng, sống động, nhiều cá tính, kết hợp ăn ý từ thanh tra, bác sĩ pháp y đến bác sỹ tâm lý pháp y. Từng nút thắt được cởi bỏ, sự kiêu ngạo của một tên sát nhân tự cho là thông minh hơn người dần bị bẻ gãy, cuối cùng thì tội ác phải chấp nhận thua cuộc và bị trả giá.

Đánh giá: 3.5/5.
Yêu thích: 3.8/5.

REVIEW: HOA CÚC XANH – KAREL CAPEK (Winny Nguyễn)

Bài gốc đã được đăng ở đây: HOA CÚC XANH – KAREL CAPEK

Karel Capek sinh năm 1980 tại Malé Svatonovice, một làng thuộc Đông Bắc Czech trong gia đình có cha là bác sĩ và mẹ là nhà sưu tầm văn học dân gian. Ông có nhiều năm du học tại Paris và Berlin. Năm 1915, ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Charles Praha với bằng Doctor Triết học. Ông làm biên tập viên cho nhiều tờ báo, sau đó làm tác giả kịch bản, đạo diễn nhà hát. Từ năm 1925 – 1933 là Chủ tịch Hội Văn bút Tiệp Khắc. Ông là bạn tâm giao của T. Masarych – Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Tiệp Khắc, các bài viết của ông trên báo mang sức nặng uy quyền của người phát ngôn chính thống từ Dinh Tổng thống. Karel Capek trở thành biểu tượng văn hóa của Nền Cộng hòa Tiệp Khắc thứ nhất vì di sản văn hóa đồ sộ và những nỗ lực hòa bình hàn gắn hai dân tộc Czech và Slovakia. Ông được đề cử giải Nobel Văn học tám lần liên tục từ 1932 đến 1938.

So với tiểu thuyết hay truyện dài thì truyện ngắn dễ viết và cũng dễ đọc. Chính vì dễ dàng mà để tác giả tạo ấn tượng sâu đậm với người đọc là điều rất khó. Nhưng Karel Capek đã viết nên tuyệt tác “Hoa cúc xanh” đưa tên tuổi ông vang danh thế giới, trở thành biểu tượng của Czech và được đề cử giải Nobel Văn học tám lần liên tiếp.

“Hoa cúc xanh” là tuyển tập bốn mươi truyện ngắn theo thể loại trinh thám – hình sự, hay loạt truyện vụ án. Tuy nhiên, trinh thám hay vụ án chỉ là một sự vay mượn hình thức thể loại mà thực chất là những câu chuyện đời thường dung dị phản ánh sinh động đời sống xã hội bình dân Czech các thập niên đầu thế kỷ 20. Mỗi truyện ngắn chỉ khoảng 7 – 10 trang sách, vì thế không có những suy luận lắt léo hay tầng lớp những bí ẩn như những truyện trinh thám thông thường. Ở mỗi truyện thường có những người kể thân thuộc mà ta có thể gặp khi đi trên đường, sang nhà hàng xóm, vào tòa án, gặp gỡ trên chuyến tàu, cùng dùng bữa tối… Tưởng như chỉ nói chuyện phiếm bên tách trà, mỗi truyện bắt đầu như “tôi kể cho anh nghe nhé”, “ông Tymich nói”, “trung sĩ cảnh sát Brejcha nói”…, vào câu chuyện ngay lập tức, vừa đủ gợi sự tò mò háo hức của người nghe/người đọc. Vì thế ngôn ngữ cũng không cần dài dòng hoa mỹ và cực kỳ bình dị, cô đọng, súc tích như lời ăn tiếng nói hằng ngày, không thừa thãi lấy một chi tiết. Vì thế cũng yên ả lắm, như đang nằm giữa một cánh đồng hoa với gió mát và nắng ấm, cầm trên tay quyển sách và để từng con chữ quyến luyến vào tim. Cái chân phương mộc mạc ấy nhưng lại say đắm lòng người.

Đó là những câu chuyện bình dị quen thuộc mà ta vẫn hay nghe kể hay thường đọc trên báo: một kẻ chuyên lừa tình phụ nữ để lấy cắp tiền rốt cuộc lại gặp một ả lừa tình, vụ án một hồ sơ tuyệt mật bị lấy trộm mà tên trộm cứ ngỡ là hộp mỳ ống, bí ẩn về dấu chân đột ngột bốc hơi trên tuyết, vụ án tìm ra hung thủ giết người từ một tờ phiếu mua hàng… Đằng sau mỗi câu chuyện ngắn ngủi ấy là những tầng lớp ý nghĩa về con người, xã hội, đạo đức và lương tâm con người. Không hề giáo điều hay lý lẽ, tự bản thân mỗi câu chuyện là một bài học sống động. Không ai có thể tìm ra hoa cúc xanh vì nó mọc phía sau đường tàu với bảng “Cấm đi” nếu không có con bé Klára dở người và không biết đọc bởi con người luôn bị giới hạn bởi những quy chuẩn xã hội và bởi bản thân mình, nhưng một kẻ điên thì không. Hay việc ông cựu Bộ trưởng suốt bảy năm đấu tranh kêu oan cho một kẻ giết người, nhưng khi hắn được thả thì lại thú nhận chính hắn đã giết bà dì của mình. Ông không thể tống hắn lại vào tù sau bao công sức, danh dự và niềm tin đã đổ ra, cũng không thể dễ dàng sống với việc chính mình đã thả một kẻ giết người. Lúc này lương tâm hay danh dự có thể chiến thắng? Ngay cả Chúa trời cũng không thể phân xử được, bởi Chúa biết tất cả về con người – biết việc tốt và việc xấu, không thể xử án được con người. Tác giả tạo nên cái nhìn đa chiều muôn hình vạn trạng, không có ai hoàn toàn tốt và cũng không phải kẻ phạm tội nào cũng là đồ bỏ đi. Cứ thế tác giả liên tiếp vẽ nên những bức tranh nho nhỏ đầy màu sắc, súc tích nhưng thấm đẫm triết lý về cuộc sống và con người, bình dị nhưng sâu xa, chân thực bám sát thực tế, rồi ghép các bức tranh nhỏ thành một bức họa lớn mang đầy hơi thở cuộc sống người dân cộng hòa Czech đầu thế kỷ 20.
“Hoa cúc xanh” nhìn đơn giản nhưng thật ra rất cầu kỳ, nhất là khi mỗi câu chuyện đều có những sức nặng của riêng nó, tác giả phải thật tinh tế để lựa chọn giữ điều gì và bỏ điều gì để nội dung sao cho thật cô đọng, phải chọn dùng những từ ngữ thật chuẩn xác để không từ nào khác thay thế được. Tựa tiếng Việt được đặt lại là “Hoa cúc xanh” trong khi tên gốc là “Túi truyện thứ nhất, túi truyện thứ hai”. Tại sao lại là hoa cúc xanh? Bởi lẽ quyển sách mang vẻ bình dị của loài hoa cúc nhưng sắc xanh khiến nó trở nên đặc biệt và cuốn hút, đầy trân trọng như một viên ngọc quý trong nền văn học châu Âu và thế giới.

Đánh giá:4.5/5.
Yêu thích: 4.5/5.

REVIEW: CHIẾN BINH CẦU VỒNG – ANDREA HIRATA (Winny Nguyễn)

Bài gốc đã được đăng ở đây: CHIẾN BINH CẦU VỒNG – ANDREA HIRATA

Andrea Hirata sinh năm 1967 tại hòn đảo Belitung thuộc Indonesia. Sau khi tốt nghiệp bằng thạc sĩ tại châu Âu, Hirata làm việc ở ngành viễn thông. Năm 2005, Hirata ra mắt quyển “Chiến binh cầu vồng” dựa trên câu chuyện có thực về chính tuổi thơ của tác giả. Quyển sách bán được trên 5 triệu bản, chưa kể hơn 15 triệu bản bị in lậu. “Chiến binh cầu vồng” đã được chuyển thể thành phim điện ảnh và trở thành phim được xem nhiều nhất trong lịch sử Indonesia, ngoài ra còn được chuyển thể thành phim truyền hình và nhạc kịch.

Trên hòn đảo Belitong giàu có với nền công nghiệp khai thác thiếc, có một ngôi trường tiểu học đặc biệt tên là Muhammadiyah. Ngôi trường chỉ có hai giáo viên, nhỏ bé tồi tàn như một nhà kho chứa củi, những xà gỗ mục ruỗng sẵn sàng đổ xuống bất cứ lúc nào, mái nhà thủng lỗ chỗ, học sinh không có đồng phục và phải đi chân trần… Bất chấp hoàn cảnh khó khăn, ngôi trường bé nhỏ xập xệ vẫn là nơi thầy hiệu trưởng Harfan và cô Mus truyền dạy kiến thức, hy vọng và khát khao về một tương lai tươi sáng hơn, vẫn là nơi bọn trẻ nghèo hằng ngày vượt hàng chục cây số đến trường thỏa nỗi khao khát con chữ. Việc học là một cuộc đấu tranh sống chết với đầm cá sấu, đấu tranh với cái nghèo khổ luôn thường trực. So với việc dành thời gian cả ngày bên những con số, chúng có thể đi làm cu li hay bán bánh đỡ đần gia đình với những xấp bạc không cưỡng lại được. Ngôi trường có thể bị đóng cửa bất kỳ lúc nào bởi không đáp ứng đươc những tiêu chuẩn thanh tra, những máy xúc luôn chực chờ xới tung ngôi trường để khai thác thiếc. Đến trường lẽ ra là quyền lợi của trẻ em, lẽ ra phải được người lớn và chính quyền quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất, được ưu tiên nhất, nhưng với phần lớn cư dân nghèo đói này, mỗi ngày đến trường là một cuộc đấu tranh mạnh mẽ và đầy hy vọng như tên gọi của họ – Chiến binh cầu vồng. Những chiến binh mạnh mẽ ấy có Lintang với trí tuệ thiên tài mơ ước trở thành nhà toán học, giành được chiếc cúp học sinh giỏi danh giá; có Mohar với tố chất nghệ thuật giúp trường lần đầu tiên giành giải Biểu diễn nghệ thuật đặc sắc nhất trong năm; có Harun đầu óc ngờ nghệch nhưng vẫn không nghỉ một ngày nào… Bất chấp mọi khó khăn thiếu thốn, bọn trẻ vẫn không ngừng đấu tranh cho quyền lợi của chính mình.

Khó khăn nhưng không hề bi quan, cuộc sống của bọn trẻ tràn ngập tiếng cười của tình bạn, tình thầy trò, tình yêu đầu đời, với những tiếng cười vô lo, hồn nhiên trong trẻo. Tại mái trường nhỏ bé xập xệ này, chúng có thể sống đúng với lứa tuổi của mình, không phải lo cơm áo, tạm quên đi cái nghèo đói, để mỗi phút giây đều trở nên quý giá. Chúng thật sự là những đứa trẻ may mắn có những người bạn suốt đời không thể quên, được học tập theo cách phát triển tư duy, được trân trọng và yêu thương, được truyền niềm tin và khát vọng.
Truyền lửa cho những đam mê và khát vọng đó là thầy Harfan và cô Mus. Họ không hề được trả lương, mọi thứ đều phải tự xoay xở lấy, tự họ dạy tất cả các môn học và khối học. Họ kiên trì bám lấy ngôi trường đến tận hơi thở cuối cùng, không ngại cường quyền đứng lên đấu tranh vì bọn trẻ. Những bọn trẻ trở thành một nửa linh hồn của họ, tất cả đều vì sự nghiệp trăm năm trồng người. Được dạy, được học là “cao quý, là ca tụng nhân bàn, là niềm vui khi được cắp sách tới trường và là ánh sáng văn minh”. Chỉ có học tập mới đưa bọn trẻ bay cao bay xa, thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn đói kém và yếu hèn, mở ra cánh cửa văn minh nhân loại. Học tập là đặc quyền duy nhất mà con người là sinh vật duy nhất có được. Học thức thể hiện lòng tự trọng, có học tập mới có tiếng nói và tri thức.

Nhưng rồi, vì vũng bùn nghèo đói đã lún quá sâu trong họ, những chiến binh đã gục ngã. Lintang từ bỏ giấc mơ toán học, trở thành cu li. Sahara không thể trở thành người đấu tranh nữ quyền, Kiong không thể làm thuyền trưởng… Những giấc mơ cao quý đẹp đẽ dần lụi tắt vì sự vô cảm thờ ơ của chính quyền. Giá như có ai đó có thể giang tay ra giúp đỡ, có thể san sẻ một phần sự quan tâm của ngôi trường nhà giàu gần đó. Ngay cả Ikal – người kể chuyện – cũng suýt gắn bó cả đời với công việc phân loại thư nếu không vì khao khát muốn học tiếp, xuất sắc giành học bổng thạc sĩ ở châu Âu. Thế hệ Chiến binh cầu vồng đầu tiên đã không còn, nhưng cầu vồng sẽ lại xuất hiện sau cơn mưa, nhen nhóm niềm hy vọng về những ngôi trường mới. “Ở đảo Belintong, không phải một tập đoàn khổng lồ, chẳng phải chính phụ, mà chính những người nghèo khó đã đòi lại một nhân quyền cơ bản – quyền được học tập.”
Quyển sách “Chiến binh cầu vồng” trở thành tác phẩm có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất Indonesia không chỉ vì những dòng hồi ký chân thực, khi thì lấp lánh vui vẻ, khi thì quặn thắt xót xa, mà còn bởi lời tuyên ngôn được khẳng định liên tục: “Mọi công dân đều có quyền học hành”. Có những người nghiễm nhiên nhận lấy quyền ấy, nhưng đâu đó vẫn có những người hằng ngày phải đấu tranh cho nhân quyền của mình, đấu tranh cho những điều thật sự thiêng liêng và cao quý.

Đánh giá: 5/5.
Yêu thích: 4/5.

REVIEW: BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU – KEN KESEY (Winny Nguyễn)

Bài gốc đã được đăng ở đây: BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU – KEN KESEY

Kenneth Elton “Ken” Kesey (1935-2001) sinh ra ở Mỹ. Ông từng theo học tại Đại học Orgeon và Đại học Stanford, có thời gian làm việc tại khu điều trị tâm thần đồng thời tình nguyện tham gia làm vật thí nghiệm trong chương trình nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc kích thích lên người. Trải nghiệm này đã đóng góp rất nhiều vào thành công của “Bay trên tổ chim cúc cu” được xuất bản vào năm 1962.

Cuộc sống bình lặng và khuôn khổ của một trại điều dưỡng tâm thần bỗng chốc bị đảo lộn bởi sự xuất hiện của McMurphy – một tội phạm bị tình nghi có triệu chứng tâm thần nhưng thực chất là hắn đang trốn án lao động khổ sai ở nhà tù. Hắn hoang dã, bất trị, cười nói liên tục, trở thành thủ lĩnh của mọi cuộc vui. Hắn nhanh chóng nhận ra ách thống trị kìm kẹp của y tá trưởng Ratched và thực hiện cuộc nổi dậy chống lại. Ratched là đại diện cho Liên hợp, đại diện cho cái xấu và cái ác luôn muốn kiềm hãm tự do của người khác. Đằng sau vẻ ngoài thanh lịch nhẹ nhàng là một bộ óc thối rữa bên trong. Thay vì tích cực chữa trị cho những bệnh nhân, y tá và những nhân viên của mụ làm họ yếu đi để dễ bề giam cầm trong khuôn khổ, thực hiện các quy tắc của chúng, sống như chúng sai khiến. Chúng biến những người đàn ông vốn không khác gì những người bình thường ngoài kia là bao – trở thành những con thỏ dễ bảo, nhút nhát và bất lực. Nơi đây, thế giới thuộc về những kẻ mạnh. Với những bệnh nhân dám vượt ngoài khuôn khổ, chúng dùng liệu pháp sốc điện để trừng phạt và làm gương cho những người khác.


Những bệnh nhân kia, ngạc nhiên thay khi họ không hề bị điên, thậm chí rất nhiều người trong số họ vào trại là do bản thân tự nguyện. Một vài người trải qua những tổn thương tâm lý nặng nề, Sefelt bị động kinh, Billy khổ sở vì nói lắp… họ chỉ khác với số đông. Cuộc sống ở trại tâm thần không phải là thiên đường, nhưng vẫn còn quá bình yên so với cuộc sống bên ngoài chỉ dành cho những kẻ mạnh. Họ để mặc cho mọi thứ khống chế và điều khiển, chấp nhận bị xem là kẻ điên, thu mình lại để được sống yên ổn. Nhưng với McMurphy thì không có yên phận và chấp nhận. Hắn ngang tàng và bất trị như một con ngựa hoang, tự do làm những gì mình muốn, chẳng sợ bất cứ điều gì cả. Hắn khuấy tung mọi thứ, tổ chức những cuộc chơi ăn tiền, lập phòng chơi đánh bài, bỏ làm việc để đòi giờ xem thể thao, cùng mọi người chơi bóng rổ. Hắn liên tục khiến y tá trưởng và các hộ lý phải phát điên vì những trò chống đối ranh mãnh. Hắn kết nối những bệnh nhân lẻ loi lại với nhau, trở thành thủ lĩnh tinh thần của họ. Hắn là người duy nhất nhận ra phần người trong con người của những bệnh nhân nơi đây, hắn thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết vốn đã bị vùi dập lụi tắt từ lâu, thức tỉnh niềm ham sống, trao tặng cho họ những khao khát tự do, nhắc nhở họ đã từng là những người như thế nào, họ đã từng sống đầy khao khát và đẹp đẽ như thế nào. Cuộc sống thực sự là ở ngoài kia, vẫy vùng nơi biển rộng trời cao. Trên con tàu ra biển đánh cá do McMurphy tổ chức, chưa bao giờ họ vui vẻ đến thế, cười nhiều đến thế và tự do vẫy vùng đến thế. Giữa biển cả bao la, không gì có thể giới hạn những khát khao vô tận của con người.
Cuối truyện, McMurphy chết đi nhưng những khao khát tự do mãnh liệt của hắn vẫn còn đó. Hán đã tiếp ý chí và sức mạnh cho những người khác. Một vài người xin ra viện, và Bromden – ban đầu giả câm điếc để an phận, đã thực hiện nốt cuộc cách mạng của người thủ lĩnh: đập tan cửa kính và trốn khỏi viện, bắt đầu cuộc sống tự do đích thực. Những bệnh nhân này đã bị kiềm kẹp quá lâu, lạc lối trong bóng tối u mê của những bất ổn, cho đến khi vị thủ lĩnh, nhà cách mạng xuất hiện. McMurphy là biểu tượng mãnh liệt về tình yêu tự do, hắn không chỉ đấu tranh cho tự do của mình mà còn truyền cảm hứng và khao khát cho những người xung quanh. Những song sắt và cửa kính có thể giam hãm thân thể họ nhưng không thể kiềm giữ tinh thần tự do, phóng khoáng vốn là những khát vọng chân chính của con người dù là ai, dù là ở bất kỳ đâu.
Những câu chữ trong “Bay trên tổ chim cúc cu” vừa sảng khoái vừa bi thương, đề cao tinh thần tự do và khát vọng sống một cuộc sống đích thực của con người – là giá trị nhân bản sâu sắc mà rất nhiều tác phẩm kinh điển hướng đến. “Bay trên tổ chim cúc cu” có mặt trong những cuốn sách vĩ đại nhất của thế kỷ 20 và bộ phim chuyển thể cùng tên là một trong ba bộ phim hiếm hoi suốt lịch sử giải Oscar từng thắng giải Big Five – bộ năm giải thưởng quan trọng nhất của giải thưởng điện ảnh danh giá này. “Bay trên tổ chim cúc cu” với những giá trị vĩnh hằng và bất diệt là một kiệt tác xuyên thời gian với sức mạnh không thể bị lãng quên.

Đánh giá: 5/5.
Yêu thích: 3,5/5.